Quặng sắt giảm 7 tuần liên tiếp
Quặng sắt giảm 7 tuần liên tiếp

Giá thép thế giới

Chốt phiên giao dịch ngày 23/10, hợp đồng thép thanh giao tháng 11/2026 trên Sàn Giao dịch Thượng Hải (SHFE) giảm 19 nhân dân tệ, tương đương 0,61%, xuống còn 3.083 nhân dân tệ/tấn.

Ở chiều ngược lại, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 11 trên Sàn Giao dịch Đại Liên (DCE) tăng 1,5 nhân dân tệ, tương ứng 0,22%, lên 679,5 nhân dân tệ/tấn. Tại Sàn Giao dịch Singapore (SGX), hợp đồng quặng sắt cùng kỳ hạn tăng 0,72 USD, tương đương 0,8%, lên mức 90,6 USD/tấn.

Giá quặng sắt kỳ hạn tăng trong phiên 23/10 nhờ tồn kho tại các cảng Trung Quốc thu hẹp. Tuy nhiên, mặt hàng này vẫn đánh dấu tuần giảm thứ bảy liên tiếp khi triển vọng nhu cầu thép còn yếu, theo Reuters.

Trên Sàn Giao dịch Hàng hóa Đại Liên (DCE), hợp đồng quặng sắt giao tháng 1/2027 được giao dịch nhiều nhất tăng 0,6%, lên 675 nhân dân tệ/tấn, tương đương 101,17 USD/tấn. Dù phục hồi trong phiên cuối tuần, hợp đồng này vẫn giảm 0,45% so với tuần trước.

Theo báo cáo của các nhà phân tích tại ANZ Research, xuất khẩu quặng sắt từ Australia và Brazil giảm, trong khi nhu cầu tiêu thụ duy trì ổn định tại các nhà máy thép, góp phần kéo giảm lượng tồn kho trong tuần. Tuy nhiên, tác động hạn chế nguồn cung do thời tiết có thể chỉ diễn ra trong ngắn hạn, bởi sản lượng tại Brazil và châu Phi được dự báo cải thiện, qua đó bổ sung thêm nguồn cung cho thị trường.

Dữ liệu từ công ty tư vấn SteelHome cho thấy, tồn kho quặng sắt tại các cảng lớn của Trung Quốc giảm 0,54% so với tuần trước, xuống còn 152,23 triệu tấn.

Dù vậy, triển vọng tiêu thụ vẫn là yếu tố gây sức ép lên thị trường. Theo ANZ Research, lĩnh vực bất động sản Trung Quốc tiếp tục suy yếu, ảnh hưởng đến nhu cầu thép đầu ra. Trong khi đó, sản lượng thép vẫn đi xuống dù biên lợi nhuận đã cải thiện nhẹ. Các nhà phân tích tại Shanghai Metals Market (SMM) cũng cho biết, nhiều nhà máy thép vẫn hoạt động trong tình trạng thua lỗ, chủ yếu mua nguyên liệu theo nhu cầu thực tế và tiếp tục gây sức ép giảm giá.

Số liệu từ Mysteel ghi nhận lượng tiêu thụ thép hàng tuần giảm xuống 8,24 triệu tấn, trong đó cả thép xây dựng và thép tấm đều suy giảm. Đáng chú ý, nhu cầu biểu kiến đối với thép thanh xuống còn 2,01 triệu tấn, mức thấp nhất trong gần 4 năm. Theo SMM, lượng tồn kho quặng sắt loại mịn tại cảng giảm đã hỗ trợ giá phần nào, song nguồn cung từ nước ngoài chưa cho thấy dấu hiệu thu hẹp đáng kể.

Trên Sàn DCE, các nguyên liệu sản xuất thép khác đồng loạt tăng giá, với than luyện cốc tăng 2,07% và than cốc tăng 0,91%. Trái lại, các hợp đồng thép chủ chốt trên Sàn Giao dịch Thượng Hải (SHFE) đều đi xuống. Cụ thể, thép thanh giảm 0,55%, thép cuộn cán nóng giảm 0,43% và thép không gỉ giảm 0,77%.

Ở một diễn biến khác, Bloomberg đưa tin Tập đoàn Tài nguyên Khoáng sản Trung Quốc (CMRG) và Rio Tinto đã ký thỏa thuận cung ứng quặng sắt dài hạn, có hiệu lực từ tháng 11/2026 đến tháng 5/2028. Thỏa thuận được ký vào đầu tháng 10, bổ sung vào danh mục hợp đồng mà Rio Tinto đã thiết lập với các nhà sản xuất thép hàng đầu thế giới.

Rio Tinto cho biết doanh nghiệp duy trì mối quan hệ lâu dài và hiệu quả với các khách hàng tại Trung Quốc, song từ chối bình luận về chi tiết đàm phán thương mại. CMRG chưa đưa ra phản hồi về thông tin này.

Các doanh nghiệp khai khoáng khác của Australia cũng gặp nhiều khó khăn trong quá trình đàm phán với CMRG. Cuộc thương lượng kéo dài nhiều tháng giữa CMRG và BHP đã khép lại bằng thỏa thuận có thời hạn một năm, đến tháng 6/2027, trong đó đồng nhân dân tệ được sử dụng rộng rãi hơn làm đồng tiền định giá. Ngoài ra, CMRG đã ký thỏa thuận với Kumba Iron Ore, công ty thuộc tập đoàn Anglo American, có hiệu lực từ tháng 4/2026 đến tháng 3/2027.

Theo ước tính của công ty tư vấn Wood Mackenzie, CMRG hiện tham gia đàm phán hơn một nửa lượng quặng sắt nhập khẩu hàng năm của Trung Quốc. Được thành lập năm 2022, tổ chức này hướng tới tăng cường sức mạnh thương lượng của Trung Quốc với các tập đoàn khai khoáng lớn thông qua việc tập trung hóa hoạt động thu mua quặng sắt.

Giá thép xây dựng trong nước

Tại thị trường trong nước, giá thép xây dựng tiếp tục được các doanh nghiệp duy trì ổn định. Hòa Phát niêm yết thép CB240 ở mức 14.920 đồng/kg và thép D10 CB300 ở mức 14.210 đồng/kg. Thép Việt Ý tại miền Bắc có giá CB240 là 14.750 đồng/kg, trong khi CB300 ở mức 13.940 đồng/kg.

Đối với các thương hiệu khác, Pomina và VJS miền Bắc cùng báo giá thép CB240 ở mức 14.850 đồng/kg. Trong khi đó, thép Kyoei và VAS miền Trung đều chào bán sản phẩm ở mức 15.050 đồng/kg.

Hà Trần (t/h)