
Giá thép thế giới
Chốt phiên giao dịch ngày 20/10, hợp đồng thép thanh giao tháng 11/2026 trên Sàn Giao dịch Thượng Hải (SHFE) lùi 6 nhân dân tệ, tương đương 0,19%, xuống còn 3.098 nhân dân tệ/tấn. Tại Sàn Giao dịch Đại Liên (DCE), giá quặng sắt kỳ hạn tháng 11 cũng giảm 2,5 nhân dân tệ, tương ứng 0,36%, về mức 688 nhân dân tệ/tấn.
Trên Sàn Giao dịch Singapore (SGX), hợp đồng quặng sắt giao tháng 11 mất 0,47 USD, tương đương 0,51%, xuống còn 91,1 USD/tấn.
Giá quặng sắt kỳ hạn tiếp tục suy yếu trong phiên 20/10 khi khối lượng xuất khẩu quặng sắt toàn cầu tăng mạnh, đồng thời lượng hàng cập cảng Trung Quốc cũng đi lên, phản ánh nguồn cung trên thị trường vẫn ở mức cao, theo Reuters.
Trên Sàn Giao dịch Đại Liên (DCE), hợp đồng quặng sắt giao tháng 1/2027 được giao dịch nhiều nhất giảm 0,15%, xuống còn 681,5 nhân dân tệ/tấn, tương đương 102,04 USD/tấn.
Theo dữ liệu từ công ty tư vấn Mysteel, trong tuần kết thúc ngày 18/10, lượng quặng sắt xuất khẩu toàn cầu tăng 3,89 triệu tấn so với tuần trước, lên 34,77 triệu tấn. Riêng Australia và Brazil ghi nhận tổng lượng xuất khẩu tăng 4,79 triệu tấn, đạt 29,82 triệu tấn. Cùng thời gian này, lượng quặng sắt cập cảng tại 47 cảng của Trung Quốc tăng 2,73 triệu tấn, lên 28,35 triệu tấn.
Các chuyên gia phân tích tại công ty môi giới Everbright Futures nhận định trong báo cáo rằng lượng quặng sắt xuất khẩu từ các nhà cung cấp đã tăng so với tháng trước, trong khi lượng hàng vận chuyển đến Trung Quốc tiếp tục phục hồi. Điều này cho thấy áp lực nguồn cung vẫn ở mức lớn.
Về phía các nhà sản xuất, sản lượng quặng sắt trong quý III tại các mỏ ở Tây Australia của tập đoàn khai khoáng BHP đạt 71,9 triệu tấn, tăng so với mức 70,2 triệu tấn cùng kỳ năm ngoái. Doanh nghiệp này đang từng bước nâng công suất nhằm hướng tới mục tiêu sản lượng 305 triệu tấn/năm vào cuối năm tài chính 2028.
Theo các nhà phân tích của Shanghai Metals Market (SMM), BHP vẫn giữ nguyên dự báo sản lượng trong năm tài chính 2027 ở mức 255-265,5 triệu tấn, tính theo phần sở hữu của tập đoàn. Triển vọng này cho thấy nguồn cung quặng sắt vận chuyển bằng đường biển phục vụ các nhà sản xuất thép toàn cầu dự kiến duy trì ổn định.
Ở chiều ngược lại, Kumba Iron Ore, công ty con tại Nam Phi của Anglo American, thông báo sản lượng quặng sắt quý III giảm 19% so với cùng kỳ, xuống còn 7,5 triệu tấn. Nguyên nhân chủ yếu do hoạt động sản xuất tập trung nhiều hơn vào nửa đầu năm 2026. Dù sản lượng quý III giảm, Kumba vẫn dự kiến hoàn thành mục tiêu cả năm với sản lượng 31-33 triệu tấn và lượng bán ra 35-37 triệu tấn.
Trên Sàn DCE, các nguyên liệu sản xuất thép khác cũng đồng loạt đi xuống. Giá than luyện cốc giảm 2,36%, trong khi than cốc mất 0,41%. Tại tỉnh Sơn Tây, ngày càng nhiều mỏ than luyện cốc hoạt động trở lại. Dữ liệu của Mysteel cho thấy đến ngày 19/10, còn 48 mỏ tạm dừng sản xuất, giảm 6 mỏ so với tuần trước.
Các hợp đồng thép chủ chốt trên Sàn SHFE phần lớn giảm giá. Trong đó, thép thanh giảm 0,32%, thép cuộn cán nóng giảm 0,31%, còn thép không gỉ gần như không thay đổi.
Về nhu cầu, dữ liệu từ Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc (NBS) cho thấy đầu tư bất động sản trong 9 tháng đầu năm giảm 20,6% so với cùng kỳ năm trước, xuống còn 5.340 tỷ nhân dân tệ. Diện tích nhà ở khởi công mới giảm 24,9%, còn 340,31 triệu m²; riêng diện tích nhà ở khởi công mới giảm 25,4%, trong khi diện tích nhà bán ra giảm 13,2%.
Trong tháng 9, đầu tư bất động sản tại Trung Quốc đạt 538,5 tỷ nhân dân tệ, tăng 8,4% so với tháng trước và là mức cao nhất trong 3 tháng. Tuy nhiên, con số này vẫn thấp hơn 27,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Thời gian gần đây, Bắc Kinh đã triển khai thêm các biện pháp liên quan đến cơ chế bán nhà, hỗ trợ lãi suất vay mua nhà và quy định vận hành quỹ tiết kiệm nhà ở nhằm thúc đẩy nhu cầu.
Theo GMK Center, xuất khẩu thép của Trung Quốc trong tháng 9 đạt 10,49 triệu tấn, tăng 3,3% so với tháng trước và tăng 0,3% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 9 tháng đầu năm, lượng thép thành phẩm xuất khẩu đạt 85,64 triệu tấn, giảm 2,6% so với cùng kỳ.
Giá thép xây dựng trong nước
Trái ngược với diễn biến giảm trên thị trường quốc tế, giá thép xây dựng trong nước tiếp tục được các doanh nghiệp giữ ổn định. Hòa Phát niêm yết thép CB240 ở mức 14.920 đồng/kg và D10 CB300 ở mức 14.210 đồng/kg. Tại khu vực miền Bắc, thép Việt Ý có giá CB240 là 14.750 đồng/kg và CB300 là 13.940 đồng/kg.
Trong khi đó, Pomina và VJS tại miền Bắc cùng duy trì giá thép CB240 ở mức 14.850 đồng/kg. Tại miền Trung, thép Kyoei và VAS được chào bán với giá 15.050 đồng/kg.
Hà Trần (t/h)






















