Quặng sắt giảm sau thỏa thuận cung ứng giữa CMRG và Rio Tinto
Ảnh minh họa

Giá thép thế giới

Chốt phiên giao dịch ngày 22/10, giá thép thanh kỳ hạn tháng 11/2026 trên Sàn Giao dịch Thượng Hải (SHFE) lùi 15 nhân dân tệ/tấn, tương đương 0,48%, xuống còn 3.102 nhân dân tệ/tấn. Cùng chiều, trên Sàn Giao dịch Đại Liên (DCE), hợp đồng quặng sắt kỳ hạn tháng 11 giảm 9,5 nhân dân tệ/tấn, tương ứng 1,38%, về mức 678 nhân dân tệ/tấn.

Tại Sàn Giao dịch Singapore (SGX), giá quặng sắt kỳ hạn tháng 11 cũng giảm 1,15 USD/tấn, tương đương 1,26%, xuống còn 89,88 USD/tấn. Diễn biến đồng loạt đi xuống tại các thị trường kỳ hạn cho thấy áp lực giảm giá vẫn hiện hữu đối với cả thép thành phẩm và nguyên liệu đầu vào.

Giá quặng sắt kỳ hạn giảm trong phiên 22/10 sau khi Tập đoàn Tài nguyên Khoáng sản Trung Quốc (CMRG), đơn vị thu mua quặng sắt thuộc sở hữu nhà nước, đạt thỏa thuận cung ứng mới với Rio Tinto. Trong khi đó, lợi nhuận của các nhà máy thép vẫn chưa ghi nhận sự cải thiện đáng kể, theo Reuters.

Hợp đồng quặng sắt giao tháng 1/2027 có thanh khoản cao nhất trên Sàn Giao dịch Đại Liên (DCE) giảm 1,62%, xuống còn 669 nhân dân tệ/tấn, tương đương 100,23 USD/tấn.

Theo các nguồn tin am hiểu vấn đề, ngày 21/10, CMRG đã thông báo bằng lời tới một số nhà máy thép về thỏa thuận với Rio Tinto, song chưa cung cấp thêm thông tin cụ thể. Trước đó, hồi đầu tháng 8, Reuters đưa tin CMRG yêu cầu một số nhà máy thép tạm dừng đàm phán với Rio Tinto về các lô quặng sắt dự kiến giao từ tháng 9.

Dữ liệu từ công ty tư vấn Mysteel cho thấy tình hình thua lỗ của các nhà máy thép lớn tại Đường Sơn gần như không thay đổi trong tuần này. Chi phí sản xuất gang lỏng bình quân tiếp tục giảm so với giá phôi thép vuông thông thường xuất xưởng, hiện ở mức 2.940 nhân dân tệ/tấn.

Theo Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc (NBS), sản lượng quặng sắt thô của nước này trong tháng 9 đạt 63,11 triệu tấn, giảm 23,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, các nhà phân tích của công ty môi giới Everbright Futures nhận định nguồn cung quặng sắt vẫn dồi dào, bất chấp sản lượng nội địa suy giảm. Nguyên nhân là sản lượng tại các mỏ nước ngoài duy trì ổn định, lượng quặng xuất khẩu và cập cảng ở mức cao, trong khi tồn kho tại cảng vẫn lớn.

Ở chiều ngược lại, Fortescue của Australia cảnh báo hoạt động kinh doanh có thể chịu tác động nếu các cuộc đàm phán với CMRG không được hoàn tất trước cuối năm nay. Trong quý đầu tiên của năm tài chính, lượng quặng sắt xuất đi của nhà khai thác lớn thứ tư thế giới giảm 6% do hoạt động bảo trì, bao gồm các đợt tạm dừng bốc xếp tại cảng theo kế hoạch. Cuộc thương lượng cung ứng kéo dài với CMRG cũng tiếp tục tạo sức ép lên hoạt động của doanh nghiệp.

Trên Sàn DCE, các nguyên liệu sản xuất thép khác đồng loạt giảm giá. Cụ thể, hợp đồng than luyện cốc giảm 1,98%, còn than cốc mất 2,49%. Trong khi đó, các hợp đồng thép chủ chốt trên Sàn Giao dịch Thượng Hải (SHFE) diễn biến trái chiều: thép thanh giảm 0,68%, thép cuộn cán nóng giảm 0,92%, còn thép không gỉ tăng 1,52%.

Trong một diễn biến khác, tập đoàn khai khoáng Anglo American cho biết sản lượng quặng sắt cao cấp trong quý III đạt 13,8 triệu tấn, giảm 4% so với cùng kỳ năm trước và giảm 10% so với quý liền trước. Kết quả này chủ yếu do doanh nghiệp chủ động cắt giảm sản lượng tại mỏ Kumba ở Nam Phi, trong khi mức tăng sản lượng tại tổ hợp Minas-Rio ở Brazil chỉ bù đắp được một phần.

Tại Kumba, sản lượng giảm do nhà máy chế biến Sishen tạm ngừng hoạt động theo kế hoạch để kết nối dự án công nghệ mới, cùng tình trạng thiếu nguyên liệu tại mỏ Kolomela. Dù vậy, lượng quặng sắt tiêu thụ vẫn tăng 9%, lên 15,75 triệu tấn nhờ giải phóng hàng tồn kho. Trong khi đó, sản lượng quặng tinh tại Minas-Rio tăng 24%, đạt 6,3 triệu tấn; lượng xuất khẩu tăng 21%, lên 6,05 triệu tấn.

Giá bán bình quân quặng sắt cao cấp của Anglo American trong quý III giảm 11% so với cùng kỳ năm ngoái, xuống 82 USD/tấn theo điều kiện FOB. Trong đó, giá bán sản phẩm từ Kumba đạt 86 USD/tấn, còn Minas-Rio đạt 77 USD/tấn. Doanh nghiệp vẫn giữ nguyên dự báo sản lượng quặng sắt năm 2026 trong khoảng 55–59 triệu tấn.

Giá thép xây dựng trong nước

Tại thị trường trong nước, giá thép xây dựng tiếp tục được các doanh nghiệp duy trì ổn định. Hòa Phát niêm yết thép CB240 ở mức 14.920 đồng/kg và D10 CB300 ở mức 14.210 đồng/kg. Thép Việt Ý tại miền Bắc có giá CB240 là 14.750 đồng/kg, còn CB300 ở mức 13.940 đồng/kg.

Trong khi đó, thép Pomina và VJS tại miền Bắc cùng báo giá CB240 ở mức 14.850 đồng/kg. Tại miền Trung, thép Kyoei và VAS được chào bán ở mức 15.050 đồng/kg.

Hà Trần (t/h)