Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, hiện cả nước đang triển khai 293 dự án nhà ở xã hội với tổng quy mô 363.065 căn. Trong đó, có 128 dự án đã được khởi công mới với quy mô 183.293 căn, bao gồm 140.492 căn nhà ở xã hội để bán hoặc thuê mua và 42.801 căn nhà ở cho thuê. Tính đến nay, toàn quốc có 170 dự án đã hoàn thành với 46.962 trên tổng số 97.271 căn, đạt 48% kế hoạch.

Đối với phân khúc nhà ở xã hội cho thuê, lũy kế đến thời điểm hiện tại có 114 dự án đang được triển khai với quy mô 63.970 căn. Đáng chú ý, kể từ khi Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo đẩy mạnh phát triển phân khúc nhà ở cho thuê từ tháng 6/2026, cả nước đã khởi công mới 29 dự án với quy mô khoảng 85.594 căn, trong đó có 33.886 căn nhà ở cho thuê (chiếm tỷ lệ 40%). Dự kiến hết năm 2026, phân khúc nhà ở xã hội cho thuê sẽ hoàn thành 18.049 căn, vượt 104% kế hoạch đề ra.

Thứ trưởng Bộ Xây dựng Lê Hồng Vinh thông tin tại buổi họp báo. Ảnh: Chinhphu.vn
Thứ trưởng Bộ Xây dựng Lê Hồng Vinh thông tin tại buổi họp báo. Ảnh: Chinhphu.vn

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người thu nhập thấp và công nhân tiếp cận nhà ở xã hội thông qua các hình thức mua, thuê hoặc thuê dài hạn với giá phù hợp, Chính phủ đã giao Bộ Xây dựng chủ trì tham mưu sửa đổi, hoàn thiện Luật Nhà ở để trình Quốc hội tại kỳ họp này. Dự thảo Luật tập trung cụ thể hóa các cơ chế, chính sách xoay quanh bốn nhóm vấn đề trọng tâm.

Nhóm vấn đề thứ nhất quy định về đối tượng và điều kiện thụ hưởng (tại các Điều 31, 38, 44, 59 và 70). Theo đó, dự thảo Luật xác định rõ các nhóm đối tượng được hưởng chính sách nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê và nhà lưu trú công nhân, đồng thời chuẩn hóa các điều kiện về tình trạng nhà ở, mức thu nhập cũng như thứ tự ưu tiên trong quá trình xét duyệt.

Nhóm vấn đề thứ hai xác lập nguyên tắc hỗ trợ và phát triển nhà ở (tại các Điều 32, 33, 45, 60 và 62) theo hướng bảo đảm tính công khai, minh bạch, đúng đối tượng; ưu tiên người có công với cách mạng, người khuyết tật, hộ nghèo và hỗ trợ người dân tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi. Dự thảo Luật cũng đề cập đến cơ chế tạo lập nguồn vốn thông qua Quỹ nhà ở hoạt động không vì lợi nhuận và nguồn tài chính công đoàn, đồng thời quy định cụ thể việc quy hoạch, bố trí quỹ đất dành cho phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê và nhà lưu trú công nhân.

Nhóm vấn đề thứ ba tập trung vào các chính sách ưu đãi đối với chủ đầu tư nhằm kéo giảm giá thành sản phẩm (tại các Điều 42, 48 và 64). Cụ thể, dự thảo quy định chính sách miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; ưu đãi về thuế và tín dụng; cho phép hạch toán chi phí đầu tư hạ tầng và xây dựng vào chi phí hợp lý. Bên cạnh đó, chủ đầu tư được phép dành một tỷ lệ diện tích đất hoặc diện tích sàn nhất định trong dự án để kinh doanh dịch vụ, thương mại nhằm bù đắp chi phí đầu tư, từ đó góp phần giảm giá bán và giá cho thuê nhà ở xã hội.

Nhóm vấn đề thứ tư quy định nguyên tắc xác định giá và quản lý giao dịch (tại các Điều 37, 43, 67 và 68). Giá bán, giá thuê và giá thuê mua nhà ở xã hội được xác định trên cơ sở tính đúng, tính đủ các chi phí hợp lý, hợp lệ cộng với lợi nhuận định mức, tuyệt đối không tính các khoản ưu đãi của Nhà nước vào giá thành.

Đặc biệt, để ngăn chặn tình trạng đầu cơ và bảo đảm quỹ nhà ở phục vụ đúng mục tiêu an sinh xã hội, dự thảo Luật quy định mỗi đối tượng chỉ được mua hoặc thuê một căn nhà ở xã hội, đồng thời áp dụng quy định hạn chế chuyển nhượng trong thời hạn 5 năm đầu tiên.

Tâm An