
Giá thép thế giới
Khép lại phiên 30/9, hợp đồng thép thanh kỳ hạn tháng 10/2026 trên Sàn Giao dịch Thượng Hải (SHFE) giảm 3 nhân dân tệ, tương đương 0,1%, xuống 3.038 nhân dân tệ/tấn.
Ở thị trường quặng sắt, hợp đồng kỳ hạn tháng 10 trên Sàn Giao dịch Đại Liên (DCE) tăng 4 nhân dân tệ, tương đương 0,57%, lên 707,5 nhân dân tệ/tấn. Trái lại, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 10 trên Sàn Giao dịch Singapore (SGX) giảm 0,2 USD, tương đương 0,21%, xuống 93,3 USD/tấn.
Giá quặng sắt kỳ hạn tăng nhẹ trong phiên 30/9, được hỗ trợ bởi dữ liệu cho thấy hoạt động sản xuất của Trung Quốc đã trở lại tăng trưởng trong tháng 9, cùng các biện pháp kích thích kinh tế mới từ Bắc Kinh. Theo đó, hợp đồng quặng sắt kỳ hạn tháng 1/2027 được giao dịch nhiều nhất trên Sàn Giao dịch Đại Liên (DCE) tăng 0,14% lên 702,5 nhân dân tệ (104,79 USD)/tấn. Trên Sàn Giao dịch Singapore (SGX), hợp đồng quặng sắt tham chiếu kỳ hạn tháng 10 tăng 0,11% lên 93,6 USD/tấn.
Các khảo sát chính thức và tư nhân công bố ngày 30/9 cho thấy hoạt động sản xuất của Trung Quốc mở rộng trở lại trong tháng 9. Thời tiết bớt bất lợi giúp các nhà máy nối lại hoạt động, trong khi làn sóng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) trên toàn cầu tiếp tục hỗ trợ khu vực công nghiệp. Trước đó một ngày, Trung Quốc cũng công bố các biện pháp thúc đẩy tín dụng chi phí thấp vào lĩnh vực hạ tầng, công nghệ và tăng hỗ trợ người mua nhà nhằm thúc đẩy nền kinh tế.
Dù vậy, mức tăng của quặng sắt bị hạn chế bởi giá cước vận tải đường biển giảm. Theo Mysteel, ngày 29/9, cước tuyến Capesize C5 từ Australia sang Trung Quốc giảm 0,7 USD/tấn, trong khi tuyến C3 từ Brazil sang Trung Quốc giảm 1,88 USD/tấn. Trên Sàn DCE, các nguyên liệu sản xuất thép diễn biến trái chiều, với than luyện cốc giảm 0,17% còn than cốc tăng 0,56%.
Trên Sàn Giao dịch Thượng Hải (SHFE), các mặt hàng thép cũng phân hóa. Giá thép thanh tăng 0,1%, trong khi thép cuộn cán nóng giảm 0,15% và thép không gỉ giảm 0,62%.
Thị trường phôi tấm diễn biến trái chiều
Theo GMK Center, giá phôi tấm tại các khu vực trên thế giới có diễn biến khác nhau trong tháng 9. Giá chào bình quân FOB tại khu vực Biển Đen tính đến ngày 15/9 tăng 6 USD lên 493 USD/tấn. Ngược lại, giá xuất khẩu tham chiếu phôi tấm Brazil giảm khoảng 5 USD xuống 565 USD/tấn FOB.
Thị trường phôi tấm Brazil phần lớn thời gian trong tháng 9 duy trì xu hướng giảm. Đầu tháng, giá xuất khẩu tham chiếu phá vỡ vùng dao động 570 - 580 USD/tấn, nối tiếp đà giảm từ mức đỉnh 597 USD/tấn hồi tháng 6. Sau giai đoạn ổn định vào giữa tháng, giá tiếp tục giảm vào cuối kỳ 10 ngày thứ hai trước khi đảo chiều nhẹ vào cuối tháng, đánh dấu lần tăng đầu tiên sau ba tháng.
Tâm lý thận trọng bao trùm thị trường do các doanh nghiệp chờ quyết định của cơ quan chức năng về khả năng áp thuế chống bán phá giá đối với thép cuộn cán nóng (HRC) Trung Quốc. Quyết định dự kiến được đưa ra trong tháng 10, khiến hoạt động giao dịch trong tháng 9 phần nào bị hạn chế.
Theo Hiệp hội các nhà sản xuất thép Brazil (IAB), xuất khẩu phôi tấm của Brazil trong tháng 8 đạt 816.000 tấn, giảm nhẹ so với tháng trước sau khi tăng 12% trong tháng 7. Tính chung 8 tháng đầu năm, xuất khẩu mặt hàng này tăng 15% so với cùng kỳ năm trước, lên 4,43 triệu tấn. Mỹ tiếp tục là thị trường lớn nhất với 606.000 tấn trong tháng 8, tiếp đến là Mexico và Ba Lan.
Giá thép xây dựng trong nước
Tại thị trường trong nước, các doanh nghiệp tiếp tục giữ ổn định giá thép xây dựng. Hòa Phát niêm yết thép CB240 ở mức 14.920 đồng/kg và D10 CB300 ở mức 14.210 đồng/kg. Thép Việt Ý Miền Bắc lần lượt ở mức 14.750 đồng/kg và 13.940 đồng/kg.
Trong khi đó, Pomina và VJS Miền Bắc cùng báo giá thép CB240 ở mức 14.850 đồng/kg. Thép Kyoei và VAS Miền Trung có giá CB240 cao hơn, cùng ở mức 15.050 đồng/kg.
Hà Trần (t/h)























