Kết thúc phiên giao dịch, giá thép thanh kỳ hạn tháng 4/2026 trên Sàn Thượng Hải giảm 0,73% (23 nhân dân tệ), xuống còn 3.130 nhân dân tệ/tấn.
Trên Sàn Đại Liên, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 4/2026 tăng 1,45% (12 nhân dân tệ), đạt 838 nhân dân tệ/tấn. Trong khi đó, trên Sàn Singapore, quặng sắt kỳ hạn tháng 4/2026 giảm 0,16 USD, về mức 107,15 USD/tấn.

Đáng chú ý, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 5/2026 có dấu hiệu đi xuống khi Trung Quốc nới lỏng một số hạn chế đối với quặng Jimblebar. Hợp đồng quặng sắt giao tháng 5 được giao dịch nhiều nhất trên Sàn Hàng hóa Đại Liên giảm 0,55%, còn 807,5 nhân dân tệ/tấn (tương đương 117,04 USD/tấn).
Việc nới lỏng hạn chế mua các lô hàng BHP Jimblebar đã có sẵn tại các cảng Trung Quốc giúp giảm lo ngại về nguồn cung trong tuần này, tạo áp lực hạ giá. Tuy nhiên, các lô hàng xuất khẩu đường biển vẫn bị cấm, dự kiến sẽ thắt chặt nguồn cung vào tuần tới và hỗ trợ giá ở mức nhất định.
Theo Shanghai Metals Market, sản lượng thép nóng trung bình hàng ngày từ 242 nhà máy khảo sát tăng 38.000 tấn so với tuần trước và dự kiến tiếp tục tăng trong tuần tới. Tuy nhiên, giá giao ngay cao vẫn có thể hạn chế các giao dịch.
Các chỉ số thép trên Sàn Thượng Hải cũng đi xuống, gồm thép cây giảm 0,51%, thép cuộn cán nóng giảm 0,36%, thép thanh dây giảm 1,09% và thép không gỉ giảm 1,42%.
Theo dữ liệu từ SteelOnline, thị trường thép trong nước đang chịu áp lực từ chi phí logistics và nguyên liệu đầu vào tăng, nhưng nhu cầu chưa tăng mạnh nên giá vẫn giữ ổn định.
Tại miền Bắc, Hòa Phát niêm yết thép cuộn CB240 khoảng 13.800 đồng/kg và thép thanh vằn D10 CB300 ở mức 13.600 đồng/kg. Các doanh nghiệp khác như Việt Đức, Việt Ý, Việt Sing và VAS cũng duy trì giá ổn định, dao động từ 12.850 đến 13.640 đồng/kg tùy loại sản phẩm.
Ở miền Trung và miền Nam, mặt bằng giá tương tự, chỉ một số doanh nghiệp điều chỉnh nhẹ nhưng không đáng kể.
Hà Trần (t/h)






















