Áp lực tăng tốc trong nửa cuối năm

Theo báo cáo tại Hội nghị giao ban xúc tiến thương mại với hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài quý II/2026, hoạt động xuất khẩu của Hà Nội đã có sự cải thiện rõ nét trong quý II.

Kim ngạch xuất khẩu quý II đạt 5,966 tỷ USD, tăng 29,2% so với quý I và tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 10,585 tỷ USD, tăng 5,5% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, trong tháng 5 và tháng 6, kim ngạch xuất khẩu đều vượt 2 tỷ USD mỗi tháng.

Diễn biến này cho thấy hoạt động sản xuất và đơn hàng xuất khẩu đang dần phục hồi. Ở chiều nhập khẩu, Hà Nội ghi nhận kim ngạch 30,911 tỷ USD trong 6 tháng, tăng tới 39,6% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, nhập khẩu tăng mạnh ở các nhóm máy móc, thiết bị, linh kiện và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất.

Doanh nghiệp xuất khẩu Hà Nội đứng trước yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm xã hội. Ảnh minh họa
Doanh nghiệp xuất khẩu Hà Nội đứng trước yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm xã hội. Ảnh minh họa

Việc nhập khẩu tăng ở nhóm hàng đầu vào có thể tạo thêm dư địa cho hoạt động sản xuất, đầu tư và chuẩn bị đơn hàng xuất khẩu trong những tháng tới. Tuy nhiên, tốc độ tăng xuất khẩu hiện vẫn thấp hơn đáng kể so với mục tiêu cả năm.

Năm 2026, Hà Nội đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu khoảng 23,256 tỷ USD, tăng 12% so với năm trước. Như vậy, sau 6 tháng đầu năm, thành phố cần đạt thêm khoảng 12,671 tỷ USD trong nửa cuối năm, tương đương bình quân hơn 2,1 tỷ USD mỗi tháng.

Đây là thách thức không nhỏ khi doanh nghiệp xuất khẩu đang phải hoạt động trong môi trường thương mại quốc tế nhiều biến động.

Theo ông Nguyễn Thế Hiệp, Phó Giám đốc Sở Công Thương Hà Nội, giá năng lượng và nguyên vật liệu biến động, trong khi chi phí lưu kho, lưu bãi và logistics tiếp tục tạo sức ép lên doanh nghiệp.

Đáng chú ý, những biến động địa chính trị cũng đang tác động trực tiếp tới chi phí vận chuyển quốc tế. Xung đột tại Trung Đông kéo dài thời gian vận chuyển, làm tăng chi phí bảo hiểm và cước tàu, từ đó ảnh hưởng đến biên lợi nhuận của những ngành hàng phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu như dệt may, da giày, gỗ và điện tử.

Không chỉ đối mặt với chi phí, doanh nghiệp còn phải thích ứng với một hệ thống yêu cầu ngày càng khắt khe từ các thị trường nhập khẩu. Phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm, bao bì sinh thái, trách nhiệm xã hội và các biện pháp phòng vệ thương mại đang trở thành những điều kiện ngày càng quan trọng để hàng hóa có thể tiếp cận thị trường.

Tìm dư địa từ thị trường mới và kênh xuất khẩu mới

Một trong những điểm nghẽn của xuất khẩu Hà Nội hiện nay là sự phụ thuộc tương đối lớn vào các thị trường quen thuộc như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và Trung Quốc.

Trong khi đó, các khu vực còn nhiều tiềm năng như Trung Đông, châu Phi, Mỹ Latinh hay Đông Âu chưa được khai thác tương xứng. Nguyên nhân đến từ hạn chế về thông tin thị trường, khoảng cách địa lý, thiếu đầu mối kết nối trực tiếp cũng như sự khác biệt về pháp lý và tiêu chuẩn kỹ thuật.

Do đó, trong giai đoạn tăng tốc cuối năm, việc tìm kiếm thị trường mới được xem là một hướng để giảm phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống, đồng thời tạo thêm dư địa cho các nhóm hàng có thế mạnh của Hà Nội.

Tại nhóm gỗ và sản phẩm gỗ, thành phố hướng tới việc khôi phục đơn hàng tại Hoa Kỳ và Nhật Bản, đồng thời tăng kết nối với các chuỗi phân phối nội thất lớn. Các doanh nghiệp cũng được hỗ trợ trong kiểm soát nguồn gốc gỗ hợp pháp và chủ động ứng phó với nguy cơ phòng vệ thương mại.

Đối với dệt may, da giày, trọng tâm được đặt vào Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc. Thay vì chỉ cạnh tranh bằng giá, doanh nghiệp cần đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn sinh thái, xu hướng tiêu dùng xanh và yêu cầu về chuỗi cung ứng bền vững để tiến sâu vào các hệ thống bán lẻ lớn.

Với công nghiệp hỗ trợ và điện tử, thị trường trọng điểm được mở rộng sang EU, Trung Quốc và ASEAN. Việc kết nối nhu cầu đặt hàng linh kiện, phụ tùng với các tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp FDI được kỳ vọng giúp doanh nghiệp Hà Nội tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

Trong khi đó, nhóm nông sản, sản phẩm OCOP và hàng làng nghề được định hướng khai thác các thị trường ASEAN, EU, Trung Quốc và Trung Đông. Đây là nhóm hàng có dư địa lớn nhưng cũng chịu tác động mạnh từ các yêu cầu về SPS, TBT, chứng nhận Halal, bao bì và truy xuất nguồn gốc.

Việc đưa sản phẩm đặc trưng của Hà Nội vào hệ thống siêu thị nước ngoài và các sàn thương mại điện tử quốc tế được xem là một hướng mở rộng đầu ra, nhất là với các doanh nghiệp nhỏ, cơ sở sản xuất làng nghề và chủ thể OCOP.

Xuất khẩu qua thương mại điện tử để giảm phụ thuộc

Bên cạnh mở rộng địa bàn, Hà Nội cũng đặt kỳ vọng vào thương mại điện tử xuyên biên giới như một kênh bổ sung cho phương thức xuất khẩu truyền thống.

Nếu trước đây doanh nghiệp thường phải phụ thuộc vào nhà nhập khẩu, đại lý hoặc hệ thống phân phối tại nước ngoài, thương mại điện tử có thể tạo thêm cơ hội tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng và nhà mua hàng ở nhiều thị trường.

Tuy nhiên, để tận dụng kênh này, doanh nghiệp phải giải quyết đồng thời nhiều vấn đề từ xây dựng thương hiệu, marketing quốc tế, bảo hộ sở hữu trí tuệ đến thanh toán, logistics và các quy định của từng thị trường.

Đây cũng là những hạn chế hiện hữu của một bộ phận doanh nghiệp Hà Nội. Không ít doanh nghiệp nhỏ và vừa còn thiếu vốn, công nghệ và nhân lực am hiểu pháp luật quốc tế; năng lực marketing xuyên biên giới, đàm phán với nhà nhập khẩu và xây dựng hệ thống phân phối ở nước ngoài còn hạn chế.

Tỷ lệ tận dụng các hiệp định thương mại tự do cũng chưa tương xứng với tiềm năng. Những khó khăn trong đáp ứng quy tắc xuất xứ, thủ tục chứng nhận và tiêu chuẩn kỹ thuật khiến doanh nghiệp chưa khai thác đầy đủ ưu đãi thuế quan từ CPTPP, EVFTA, RCEP hay UKVFTA.

Trong bối cảnh đó, hỗ trợ doanh nghiệp không chỉ dừng ở việc tổ chức hội chợ hay kết nối cung - cầu, mà cần đi sâu vào từng ngành hàng, từng thị trường và từng yêu cầu cụ thể của nhà mua hàng.

Theo kế hoạch, trong 6 tháng cuối năm, Hà Nội sẽ tổ chức 2 hội nghị tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, triển khai 7 đoàn xúc tiến thương mại quốc tế, phát hành 7 bản tin thị trường chuyên sâu và tổ chức 2 khóa tập huấn về FTA, tiêu chuẩn xanh.

Đáng chú ý, thành phố đề nghị hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài tăng cường hỗ trợ theo hướng kết nối trực tiếp doanh nghiệp với nhà mua hàng, cung cấp thông tin về tiêu chuẩn và cảnh báo sớm các rủi ro thương mại.

Với mục tiêu còn hơn 12,6 tỷ USD xuất khẩu trong nửa cuối năm, bài toán của Hà Nội không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng ở các thị trường hiện hữu. Thành phố cần đồng thời tìm kiếm đơn hàng mới, mở rộng thị trường, nâng tỷ lệ tận dụng FTA và đưa hàng hóa lên các kênh phân phối quốc tế.

Nếu thực hiện hiệu quả, việc chuyển từ xúc tiến thương mại theo diện rộng sang hỗ trợ sát hơn với nhu cầu của từng ngành hàng và thị trường sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí tìm kiếm đối tác, chủ động hơn trước các rào cản kỹ thuật và từng bước nâng sức cạnh tranh của hàng hóa Hà Nội trên thị trường quốc tế.

Minh Thành (t/h)