Chuyển từ sản xuất dựa vào kinh nghiệm sang áp dụng quy trình kỹ thuật thống nhất đang trở thành yêu cầu quan trọng đối với các vùng trồng chè của Hà Nội. Không chỉ nâng cao năng suất, việc kiểm soát chất lượng ngay từ khâu canh tác còn giúp người sản xuất đáp ứng tốt hơn yêu cầu về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tiêu thụ sản phẩm.

Năm 2026, Trung tâm Khuyến nông Hà Nội triển khai mô hình sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP trên diện tích 20 ha tại hai xã Yên Bài và Suối Hai, mỗi xã 10 ha, với sự tham gia của 72 hộ dân. Đây là những địa phương có truyền thống trồng chè, sở hữu điều kiện tự nhiên phù hợp cùng kinh nghiệm sản xuất được tích lũy qua nhiều năm.

Mô hình trồng chè theo tiêu chuẩn VietGAP tại xã Yên Bài, Hà Nội, góp phần nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm.
Mô hình trồng chè theo tiêu chuẩn VietGAP tại xã Yên Bài, Hà Nội, góp phần nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm.

Điểm đáng chú ý của mô hình là thay đổi cách tổ chức sản xuất, thay vì chỉ tập trung vào sản lượng. Các hộ tham gia được hướng dẫn thực hiện đồng bộ quy trình chăm sóc, sử dụng phân bón, quản lý sinh vật gây hại, thu hái và sơ chế. Việc ghi chép nhật ký sản xuất, kiểm soát vật tư đầu vào cũng được chú trọng nhằm bảo đảm chất lượng sản phẩm và đáp ứng yêu cầu của tiêu chuẩn VietGAP.

Để giảm chi phí chuyển đổi cho người trồng chè, Trung tâm Khuyến nông Hà Nội hỗ trợ 70% vật tư, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật sinh học theo định mức được phê duyệt; người dân đối ứng 30% còn lại. Các hộ tham gia đồng thời được hỗ trợ toàn bộ chi phí cấp chứng nhận VietGAP, tập huấn và hướng dẫn kỹ thuật trong quá trình thực hiện.

Nhờ áp dụng quy trình chăm sóc đồng bộ, cây chè sinh trưởng tốt, chất lượng búp tương đối đồng đều, tạo thuận lợi cho khâu chế biến. Năng suất chè búp tươi đạt khoảng 9 - 10 tấn/ha/năm. Đáng chú ý, tỷ lệ chè loại 1 sau thu hái đạt trên 70%, góp phần nâng giá bán chè khô thêm khoảng 30.000 - 40.000 đồng/kg so với sản phẩm đối chứng ngoài mô hình.

Hiệu quả kinh tế được thể hiện rõ qua kết quả hạch toán tại từng địa phương. Tại xã Yên Bài, lợi nhuận đạt 219,545 triệu đồng/ha/năm, cao hơn 75,577 triệu đồng so với diện tích ngoài mô hình, tương đương mức tăng 52,5%. Trong khi đó, tại xã Suối Hai, lợi nhuận đạt 178,281 triệu đồng/ha/năm, tăng 71,041 triệu đồng so với mức 107,240 triệu đồng/ha/năm của diện tích đối chứng.

Những con số trên cho thấy giá trị của việc áp dụng tiêu chuẩn sản xuất không chỉ nằm ở năng suất mà còn ở khả năng nâng chất lượng nguyên liệu, cải thiện giá bán và gia tăng lợi nhuận trên cùng đơn vị diện tích. Đây là yếu tố quan trọng đối với các vùng chè truyền thống trong điều kiện thị trường ngày càng đặt ra yêu cầu cao về chất lượng và nguồn gốc sản phẩm.

Bên cạnh lợi ích kinh tế, mô hình còn góp phần thay đổi tập quán canh tác theo hướng an toàn và thân thiện với môi trường. Việc sử dụng phân hữu cơ vi sinh, bón phân cân đối và quản lý dịch hại tổng hợp giúp hạn chế lạm dụng vật tư nông nghiệp, giảm nguy cơ ô nhiễm đất, nguồn nước và môi trường sản xuất.

Từ kết quả tại Yên Bài và Suối Hai, việc nhân rộng mô hình cần gắn với duy trì chất lượng sản phẩm và tổ chức thị trường tiêu thụ. Bởi hiệu quả của sản xuất VietGAP chỉ có thể phát huy lâu dài khi người dân tuân thủ quy trình kỹ thuật, sản phẩm có đầu ra ổn định và giá trị gia tăng được chuyển thành thu nhập thực tế.

Trong thời gian tới, Trung tâm Khuyến nông Hà Nội định hướng tiếp tục phối hợp với chính quyền địa phương đẩy mạnh chuyển giao khoa học kỹ thuật, mở rộng diện tích chè sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ; đồng thời hỗ trợ xây dựng thương hiệu, kết nối tiêu thụ và phát triển du lịch trải nghiệm gắn với vùng chè.

Kết quả từ 20 ha chè VietGAP cho thấy hướng đi phù hợp để nâng cao giá trị cây trồng truyền thống của Hà Nội. Từ thay đổi quy trình canh tác đến cải thiện chất lượng và giá bán, mô hình đang tạo cơ sở thực tiễn cho việc phát triển các vùng chè an toàn, nâng cao thu nhập cho người dân và từng bước khẳng định vị thế sản phẩm nông nghiệp Thủ đô.

Minh Thắm