THCL Trong những năm qua, Bộ Y tế đã ban hành Hướng dẫn điều trị HIV/AIDS cập nhật theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới. Ngày 22/7/2015, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 3047/QĐ-BYT về việc ban hành Hướng dẫn Quản lý, Điều trị và Chăm sóc HIV/AIDS.

Điều trị bằng thuốc ARV
Hiện nay, toàn quốc có 312 phòng khám ngoại trú và 526 điểm cấp phát thuốc ARV tại xã/phường; đang điều trị ARV tại 23 trại giam và 33 Trung tâm 06. 95.752 bệnh nhân đang điều trị ARV, trong đó 91.156 người lớn, 4.596 trẻ em.
So với cuối năm 2014, trong 4 tháng đầu năm 2015 tăng 2.909 bệnh nhân; so với kế hoạch năm 2015 đạt 91%. Chương trình điều trị ARV đã và đang được mở rộng không ngừng. Số bệnh nhân đang được được điều trị ART tăng từ 500 người vào năm 2004 lên 93.298 người vào cuối năm 2014, bao gồm 88.740 người lớn và 4.558 trẻ em. Độ bao phủ của chương trình ART trong số những người đủ tiêu chuẩn điều trị cũng tăng lên 67.6% (66% ở người lớn và 78,1% ở trẻ em) vào năm 2013 khi áp dụng tiêu chuẩn điều trị theo hướng dẫn quốc gia (CD4 < 350 tế bào/mm3 ở người lớn).
Theo Quyết định số 3047/QĐ-BYT (Bộ Y tế ban hành ngày 22/7/2015) về việc Hướng dẫn Quản lý, Điều trị và Chăm sóc HIV/AIDS, tiêu chuẩn điều trị ARV đã được mở rộng. Cụ thể: bắt đầu điều trị ARV với người lớn là CD4 ≤ 500 tế bào/mm3; bắt đầu điều trị ARV không phụ thuộc số lượng tế bào TCD4 cho: người có nguy cơ cao nhiễm HIV (TCMT, PNBD, MSM), người nhiễm HIV có bạn tình không nhiễm HIV, có biểu hiện của viêm gan B (VGB) mạn tính nặng, phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú, người sống ở các khu vực xa xôi, người trên 50 tuổi;.
Kết quả nghiên cứu tình trạng HIV kháng thuốc trên bệnh nhân đang điều trị ARV cho thấy, trên 90% bệnh nhân điều trị ARV từ 36 tháng trở lên có tải lượng HIV dưới ngưỡng ức chế. Tỷ lệ kháng thuốc điều trị HIV ở bệnh nhân điều trị ARV có xu hướng gia tăng nhưng vẫn ở mức thấp (2,9% sau 12 tháng điều trị và 5,2% sau trên 36 tháng điều trị) .
Tỷ lệ duy trì điều trị ART ở người lớn và trẻ em tương đồng với các nước trong khu vực. Số liệu ở 83 điểm điều trị trên toàn quốc cho tới cuối năm 2012 cho thấy tỷ lệ duy trì sau 12 tháng bắt đầu điều trị ARV là trên 80% và sau 48 tháng là 70%.
Trong năm 2013, một năm sau khi Quyết định 2594, 2496, và 2497/QĐ-BYT được ban hành vào ngày 18/7/2012 công tác phối hợp HIV/lao đã được tăng cường, 53 tỉnh/thành phố đã thiết lập cơ chế phối hợp giữa chương trình Lao và HIV. Cục Phòng chống AIDS và Dự án Phòng chống Lao quốc gia đã phối hợp xây dưng các văn bản pháp lý nhằm thúc đẩy hợp tác giữa 2 chương trình ở cấp tỉnh, bao gồm: chỉnh sửa và áp dụng gói 12 chính sách theo khuyến nghị của WHO, hướng dẫn quốc gia về phát hiện tích cực bệnh lao dựa trên 4 triệu chứng lâm sàng và điều trị dự phòng mắc lao bằng Isoniazid (INH) ở người nhiễm HIV.
Dự phòng cho bà mẹ mang thai
Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng kể trong công tác dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con. Bao phủ xét nghiệm HIV cho phụ nữ mang thai đã tăng từ 8,2% năm 2006 lên gần 50% năm 2013-2014. Riêng trong năm 2014, có tới 48,7% trong số 1,7 triệu phụ nữ mang thai được xét nghiệm HIV. Trong tổng số ước tính 3.000 phụ nữ mang thai được chẩn đoán dương tính với HIV, có 1.733 bà mẹ và 1.854 trẻ sơ sinh đã được điều trị dự phòng bằng ARV. Công tác chẩn đoán trẻ mới sinh ra bằng xét nghiệm virus đã được mở rộng. Trong năm 2014, 1.271[1] trẻ sơ sinh đã được chẩn đoán sớm ngay khi sinh và được chuyển gửi đến các dịch vụ chăm sóc nhi, cho thấy mức độ tăng đáng kể độ bao phủ của dịch vụ này, từ 26% trong năm 2011 lên 42% trong năm 2014.
Trong quý I/2015, số phụ nữ mang thai được xét nghiệm là 214.000 người và phát hiện nhiễm HIV là 404 người (0,19%) trong đó có 232 bà mẹ nhiễm HIV đã sinh con được điều trị dự phòng HIV từ mẹ sang con. Tổng số trẻ đẻ sống từ mẹ nhiễm HIV là 274 trẻ và được dự phòng 256 trẻ (chiếm 96,7% số trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV). Tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con trong số trẻ sinh từ mẹ nhiễm HIV được chẩn đoán sớm tình trạng nhiễm HIV năm 2014 là 3,2%. Chỉ số này đã giảm từ 10,8% vào năm 2010 xuống còn 3,2% vào năm 2014.
Gia Linh (Thương hiệu và Công luận)

THCL- Trong những năm qua, Bộ Y tế đã ban h



















