Thay đổi nằm ở quy trình cấp, không phải quy tắc xuất xứ
Theo quy định tại Thông tư số 26/2026/TT-BCT cùng Nghị định số 146/2025/NĐ-CP và Thông tư số 40/2025/TT-BCT, từ ngày 1/8/2026, hoạt động cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) được tổ chức lại theo hướng phân cấp mạnh hơn cho địa phương.
Theo bà Trịnh Thị Thu Hiền, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), doanh nghiệp cần lưu ý rằng thay đổi lần này không tác động đến các quy tắc xác định xuất xứ hàng hóa hay điều kiện hưởng ưu đãi thuế quan trong các hiệp định thương mại tự do (FTA). Điều chỉnh chủ yếu nằm ở cơ quan cấp C/O, quy trình xử lý hồ sơ và đầu mối tiếp nhận.

Hiện Việt Nam vẫn duy trì song song hai cơ chế chứng nhận xuất xứ gồm cơ quan có thẩm quyền cấp C/O và thương nhân tự chứng nhận xuất xứ theo từng FTA. Vì vậy, doanh nghiệp vẫn phải căn cứ vào quy định của từng hiệp định để lựa chọn hình thức chứng nhận phù hợp.
Theo quy định mới, Cục Xuất nhập khẩu trực tiếp cấp 12 mẫu C/O thuộc các FTA quan trọng như EVFTA, UKVFTA, RCEP, CPTPP và một số hiệp định ASEAN. Trong khi đó, UBND cấp tỉnh tổ chức cấp các mẫu C/O theo danh mục được quy định tại Phụ lục II của Thông tư 26.
Đáng chú ý, theo bà Trịnh Thị Thu Hiền, nhiều doanh nghiệp đang hiểu chưa đầy đủ rằng Bộ Công Thương chỉ cấp 12 mẫu, còn địa phương cấp toàn bộ phần còn lại. Trên thực tế, có những mẫu C/O được cả Cục Xuất nhập khẩu và địa phương thực hiện cấp theo phạm vi được quy định cụ thể trong Thông tư 26. Do đó, doanh nghiệp cần tra cứu đúng danh mục thay vì xác định theo cách loại trừ.
Một điểm khác cũng dễ gây nhầm lẫn là danh mục C/O do địa phương cấp không chỉ gồm 21 loại giấy chứng nhận như cách hiểu thông thường. Một số mục trong phụ lục bao gồm nhiều loại C/O hoặc nhiều loại chứng từ khác nhau, đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ trước khi nộp hồ sơ.
Chủ động cập nhật hệ thống để không ảnh hưởng tiến độ giao hàng
Bên cạnh việc xác định đúng cơ quan cấp, doanh nghiệp cũng cần làm quen với quy trình điện tử mới trên hệ thống Ecosys.
Từ thời điểm quy định có hiệu lực, các hồ sơ khai mới sẽ được hệ thống tự động điều hướng đến đúng cơ quan có thẩm quyền. Trong khi đó, những hồ sơ đã được nộp trước thời điểm chuyển đổi vẫn tiếp tục do cơ quan cũ xử lý để bảo đảm tính liên tục.
Theo khuyến nghị của Cục Xuất nhập khẩu, doanh nghiệp trước hết cần xác định đúng thị trường xuất khẩu và hiệp định thương mại được áp dụng. Chẳng hạn, hàng hóa xuất khẩu sang Liên minh châu Âu, Vương quốc Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia hay New Zealand theo các FTA tương ứng vẫn thuộc nhóm mẫu C/O do Cục Xuất nhập khẩu cấp. Ngược lại, C/O mẫu B dành cho nhiều thị trường ngoài các FTA như Pakistan hoặc Algeria sẽ được cấp tại địa phương.
Đối với một số thị trường như Nhật Bản, doanh nghiệp có thể lựa chọn nhiều loại C/O khác nhau như AJ, VJ, RCEP hoặc CPTPP. Việc lựa chọn loại C/O phù hợp sẽ giúp tận dụng mức ưu đãi thuế quan cao hơn và tối ưu hiệu quả xuất khẩu.
Các chuyên gia cũng lưu ý doanh nghiệp cần phân biệt rõ đầu mối hỗ trợ khi phát sinh vướng mắc. Những vấn đề liên quan đến quy tắc xuất xứ, hồ sơ hay tiêu chí cấp C/O sẽ do Cục Xuất nhập khẩu hướng dẫn. Trong khi đó, các lỗi về tài khoản, chữ ký số, hệ thống Ecosys hoặc khai báo điện tử sẽ được bộ phận kỹ thuật tiếp nhận xử lý.
Đối với các trường hợp cơ quan hải quan nước nhập khẩu yêu cầu xác minh C/O, doanh nghiệp cần nhanh chóng thông báo cho đơn vị đã cấp giấy chứng nhận và phối hợp với Cục Xuất nhập khẩu để xử lý, tránh kéo dài thời gian thông quan hoặc ảnh hưởng đến tiến độ giao hàng.
Theo thống kê, đến nay 33 trong tổng số 34 địa phương đã sẵn sàng triển khai cấp C/O theo mô hình mới. Phần lớn giao Sở Công Thương thực hiện, trong khi một số địa phương phân công Ban Quản lý khu công nghiệp hoặc Ban Quản lý khu kinh tế đảm nhiệm.
Theo các chuyên gia, việc phân cấp cấp C/O là bước đi nhằm nâng cao hiệu quả cải cách thủ tục hành chính, đưa dịch vụ công đến gần doanh nghiệp hơn. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu triển khai, doanh nghiệp cần chủ động cập nhật quy định, rà soát quy trình nội bộ, đào tạo nhân sự phụ trách xuất xứ hàng hóa và thường xuyên theo dõi hướng dẫn từ cơ quan quản lý để hạn chế tối đa nguy cơ phát sinh sai sót, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu xuất khẩu thường tăng mạnh vào những tháng cuối năm.
Minh Thành (t/h)



















