Theo Cục Thống kê, IIP quý IV/2025 duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước do các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất chuẩn bị hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu cuối năm. Tính chung năm 2025, IIP ước tăng 9,2% so với năm trước, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay.

IIP quý IV/2025 ước tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,8%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,0%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,3% và ngành khai khoáng tăng 3,4%.

Năm 2025, IIP ước tăng 9,2% so với năm trước (năm 2024 tăng 8,2%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 10,5% (năm 2024 tăng 9,5%), đóng góp 8,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,7% (năm 2024 tăng 9,5%), đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,8% (năm 2024 tăng 10,6%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 0,5% (năm 2024 giảm 6,3%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm trong mức tăng chung.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

IIP năm 2025 của một số ngành trọng điểm cấp II tăng cao: Sản xuất xe có động cơ tăng 22,0%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 16,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 15,7%; sản xuất kim loại tăng 15,4%; sản xuất trang phục tăng 13,2%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 12,5%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 12,4%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 11,1%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 11,0%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 10,8%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 10,4%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 9,4%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 8,3%. Ở chiều ngược lại, IIP của một số ngành tăng thấp hoặc giảm: Khai thác than cứng và than non tăng 2,5%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 2,5%.

IIP năm 2025 so với năm trước tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương có IIP đạt mức tăng khá cao do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao. Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, ngành sản xuất và phân phối điện, ngành khai khoáng tăng thấp hoặc giảm.

Địa phương có IIP chế biến, chế tạo năm 2025 so với năm trước tăng cao: Quảng Ninh tăng 33,7%; Phú Thọ tăng 27,6%; Ninh Bình tăng 23,6%; Thanh Hóa tăng 17,4%; Bắc Ninh tăng 17,3%; Hải Phòng tăng 16,9%. Địa phương có IIP sản xuất và phân phối điện tăng cao: Nghệ An tăng 25,8%; Đồng Nai tăng 12,0%.

Địa phương có IIP chế biến, chế tạo năm 2025 so với năm trước tăng thấp hoặc giảm: Hà Tĩnh tăng 6,3%; Tuyên Quang tăng 6,1%; Lạng Sơn tăng 5,7%; Cao Bằng giảm 5,1%. Địa phương có IIP sản xuất và phân phối điện năm 2025 so với năm trước tăng thấp hoặc giảm: Khánh Hòa tăng 3,4%; Lâm Đồng tăng 2,0%; Lạng Sơn tăng 1,5%; Vĩnh Long giảm 0,9%. Địa phương có chỉ số của ngành khai khoáng năm 2025 so với năm trước tăng thấp hoặc giảm: Quảng Trị giảm 10,2%; Tuyên Quang giảm 8,7%; Hà Tĩnh giảm 2,4%; Lào Cai và Hà Nội cùng giảm 1,0%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực năm 2025 tăng cao so với năm trước: Ô tô tăng 39,1%; thép cán tăng 17,6%; tivi tăng 17,4%; thức ăn cho thủy sản và quần áo mặc thường cùng tăng 13,8%; xi măng tăng 13,6%; giày, dép da tăng 13,3%; thủy hải sản chế biến tăng 11,1%; phân hỗn hợp NPK tăng 10,7%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với năm trước: Khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 5,6%; vải dệt từ sợi nhân tạo giảm 1,0%; bột ngọt giảm 0,2%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12 giảm 0,4% so với tháng trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,9% so với năm 2024 (năm trước tăng 11,4%).

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/12/2025 tăng 6,2% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 13,1% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm trước tăng 10,4%). Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân năm 2025 là 81,1% (năm 2024 là 77,1%).

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/12/2025 tăng 0,8% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 2,4% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,2% và giảm 0,6%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,8% và tăng 0,3%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,0% và tăng 3,3%. Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng không đổi so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 1,1% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 0,9% và tăng 2,4%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,1% và tăng 2,9%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,4% và tăng 0,7%.

Minh Anh