Với mục tiêu tạo thuận lợi cho nhà đầu tư (NĐT), dự kiến Dự án Luật Đầu tư (sửa đổi) sẽ được trình bày trước QH vào ngày 4/6 tới đây. Cùng với đó, việc cải thiện môi trường pháp lý, tăng năng lực quản lý nhà nước và đồng bộ hóa các công cụ luật pháp để nâng cao hiệu quả quản lý và thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) cũng là chủ đề đang được tập trung bàn thảo.

Thu hút FDI còn nhiều hạn chế
Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, việc thu hút và quản lý hoạt động vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thời gian qua còn nhiều hạn chế, trong đó có những hạn chế liên quan các thủ tục hành chính về đầu tư – kinh doanh. Đó là nhận định của Thứ trưởng Kế hoạch & Đầu tư (KH&ĐT) Đặng Huy Đông tại Hội thảo “Định hướng nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài” do Bộ KH&ĐT phối hợp Hiệp hội Doanh nghiệp (DN) đầu tư nước ngoài tổ chức tại Hà Nội mới đây.
Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KH&ĐT), sau giai đoạn thu hút được một nguồn vốn FDI lớn, đỉnh điểm là năm 2008 (đạt gần 100 tỷ USD), dòng vốn FDI có xu hướng chững lại trong mấy năm gần đây và mới chỉ có dấu hiệu phục hồi từ năm 2013. Cụ thể, năm 2011, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam chỉ đạt gần 15,6 tỷ USD, giảm 21,6% so năm 2010, tuy nhiên lượng vốn giải ngân vẫn được duy trì ở mức 11 tỷ USD. Đến năm 2012, lượng vốn đăng ký tuy có tăng 4,8%, đạt 16,35 tỷ USD, song lượng vốn giải ngân lại sụt giảm, chỉ đạt 10,46% tỷ USD. Năm 2013, lượng vốn đăng ký lên tới 22,35 tỷ USD, tăng 36,7% so năm 2012; vốn giải ngân cũng tăng 9,9%, đạt 11,5 tỷ USD…
Theo nhiều chuyên gia, sự hồi phục này là chưa bền vững và tốc độ tăng trưởng trong thu hút FDI của Việt Nam vẫn kém so nhiều quốc gia trong khu vực. Bằng chứng là lượng vốn FDI đăng ký trong 4 tháng đầu năm 2014 sụt giảm mạnh, chỉ đạt 4,85 tỷ USD, bằng 59,1% so cùng kỳ. Những dự án (DA) FDI đầu tư vào Việt Nam đa phần là nhỏ, những DA từ 100 triệu đến 500 triệu USD chỉ chiếm 1,51% từ 500 triệu đến 1 tỷ USD chỉ chiếm 0,19% và hơn 1 tỷ USD, chiếm 0,2%.
Tính đến 20/4/2014, cả nước còn 16.323 DA FDI của 101 quốc gia và vùng lãnh thổ còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký 237,6 tỷ USD. Trong đó, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 54%; bất động sản 20,8%; nông, lâm, thủy sản 1,4%. Tổng vốn thực hiện đạt hơn 116 tỷ USD.
Đánh giá hoạt động quản lý và thu hút FDI hiện nay, Cục trưởng Đầu tư nước ngoài (Bộ KH&ĐT) Đỗ Nhất Hoàng cho rằng, vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế. Các tiền đề thu hút FDI (hạ tầng, nguồn nhân lực, công nghiệp hỗ trợ…) chưa tốt. Hệ thống pháp luật, chính sách chồng chéo, mâu thuẫn; thiếu các quy định, hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng cam kết WTO và các điều kiện đầu tư. Một số quy định hiện hành chưa phù hợp, chưa rõ ràng…
Mô hình quản lý đầu tư chưa hợp lý
Theo Thứ trường KH&ĐT Đặng Huy Đông, Việt Nam đang gặp không ít khó khăn, thách thức do cạnh tranh thu hút FDI trong khu vực và trên thế giới. Thực tế, nguồn vốn FDI đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Do vậy, việc nâng cao sức cạnh tranh thông qua hoàn thiện môi trường pháp lý cũng như bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán, rõ ràng trong các quy định về đầu tư kinh doanh nhằm khuyến khích NĐT nước ngoài đã được đưa vào Nghị quyết của Chính phủ, nhằm nâng cao hiệu quả thu hút, sử dụng và quản lý FDI trong thời gian tới.
Chỉ ra những bất cập, ông Đỗ Nhất Hoàng cho rằng, sự liên kết và tính lan tỏa chưa cao, công tác quy hoạch đầu tư nước ngoài của các ngành và địa phương chưa tập trung, quy trình thủ tục cấp phép thiếu thông thoáng, tồn tại nhiều điều kiện không hợp lý, khâu hậu kiểm sau cấp phép còn yếu. Đặc biệt, mô hình quản lý đầu tư vẫn chưa hợp lý. Vừa qua, trong cấp phép đầu tư lức vào chúng ta xem xét rất kỹ nên bị đánh giá là thủ tục rườm rà, nhưng sau cấp phép, khâu quản lý lại cho thấy nhiều vấn đề, đặc biệt là sau khi phân cấp. Ngay trong các ngành Việt Nam uu đãi đầu tư, như ngành điện, thì đến nay mới có 9 DA BOT, với tổng vốn đầu tư gần 8 tỷ USD. Nếu tính thời gian đàm phán một DA 4 – 5 năm, cộng thêm vài năm xây dựng, thì không nhìn thấy DA mới nào đi vào hoạt động từ nay tới năm 2020. Theo ông Đỗ Nhất Hoàng, phải có những thay đổi lớn về khung khổ pháp luật, cơ chế chính sách. Điều này là cần thiết để bảo đảm mục tiêu thu hút FDI có chọn lọc, nhất là trong bối cảnh hiện tại, khi DN FDI quy mô vốn nhỏ đang chiếm tỷ trọng lớn, với gần 30% số DA có vốn dưới 500.000 USD…
Cùng quan điểm này, Chủ tịch Hiệp hội DN FDI Nguyễn Mại cho rằng, cần đặt rõ mục tiêu trong quản lý nhà nước là phải nâng chất lượng dòng vốn FDI, chứ không phải là số lượng. Khung khổ pháp lý phải được thiết kế để thực hiện yêu cầu này. Không nên dễ dàng trong thủ tục gia nhập thị trường đến mức ai cũng có thể đầu tư được. Nền kinh tế Việt Nam không cần những DA FDI quy mô quá nhỏ trong những lĩnh vực DN Việt Nam có thể làm được.
Sớm hoàn thiện khung khổ pháp lý
Theo nhận định của nhiều chuyên gia kinh tế, nếu chúng ta không có giải pháp hữu hiệu khắc phục những yếu kém nói trên thì việc thu hút cũng như sử dụng nguồn vốn FDI sẽ không được như mong muốn. Việt Nam cần phải tiếp tục cải cách mạnh mẽ hơn về thủ tục hành chính; cải thiện cơ sở hạ tầng; phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; điều chỉnh quy định về công nghệ và chuyển giao công nghệ, cũng như nâng cao hiệu quả công tác thực thi pháp luật… Hiện mô hình đầu tư của Việt Nam cần được cải tiến tiệm cận dần với mô hình của thế giới. Theo đó, khâu đầu vào cần nhanh, thông thoáng, đạt tiêu chí là được cấp phép, nhưng sau đó sẽ phải quản lý chặt. Để thực hiện được mục tiêu đó, cần phải có công cụ quản lý và hàng rào kỹ thuật thực thi tốt khâu hậu kiểm.
Tuy nhiên, có vẻ như mối quan tâm của NĐT, nhất là các NĐT nước ngoài không chỉ là mô hình quản lý, mà quan trọng hơn, đó là những điều kiện, tiêu chí cụ thể mà họ phải tuân thủ cũng như cách thức thực hiện. Theo Phó Tổng Giám đốc Công ty kiểm toán quốc tế Ernst&Young Việt nam Vũ Hương, người hiểu khá rõ những băn khoăn của các DN FDI, định nghĩa về NĐT nước ngoài là khái niệm quan trọng mà các NĐT đặc biệt quan tâm. NĐT có thể căn cứ định nghĩa này để xác định thủ tục áp dụng phù hợp, quan trọng hơn là để xác định quyền kinh doanh của mình, đặc biệt đối với một số lĩnh vực có điều kiện và hạn chế đối với NĐT nước ngoài.
Theo Phó Vụ trưởng Pháp chế (Bộ KH&ĐT) Quách Ngọc Tuấn, trong những đề xuất cải thiện thủ tục về đầu tư, đặc biệt là việc thu hẹp phạm vi cấp giấy chứng nhận đầu tư (so với DN, NĐT trong nước) thì các NĐT nước ngoài, DN FDI có đặc thù. Họ phải tuân thủ các điều kiện trong những điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Ban soạn thảo sẽ lên danh mục ngành nghề cấm đầu tư, ngành nghề đầu tư để ban hành kèm theo Luật Đầu tư. Có thể thấy, trong Dự thảo Luật Doanh nghiệp sửa đổi, NĐT nước ngoài khi làm thủ tục thành lập DN hay góp vốn, mua cổ phần trong DN Việt Nam cũng phải đáp ứng các điều kiện này. Rõ ràng, sự thuận lợi hay không trong thực thi pháp luật về đầu tư phụ thuộc rất nhiều vào nhưng quy định cụ thể, chi tiết những gì NĐT được làm và cách thức làm…
Trong phiên họp lấy ý kiến đóng góp vào Dự thảo Luật Đầu tư (sửa đổi) vừa diễn ra tại TP.HCM Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Bùi Quang Vinh cho rằng, cần tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về thu hút FDI theo hướng chọn lọc các DA có chất lượng, có giá trị gia tăng cao, sử dụng công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin và công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp. Phát triển kết cấu hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu và phát triển dịch vụ hiện đại…
Theo Thời Nay

Với mục tiêu tạo thuận lợi cho nhà đầu tư (NĐT), dự ki
















