Trong 10 tháng năm 2026, lực lượng QLTT tỉnh Đồng Tháp đã kiểm tra 1.353 vụ, phát hiện 1.032 vụ vi phạm, thu nộp ngân sách gần 13 tỷ đồng. Trong đó, 352 vụ thuộc lĩnh vực sở hữu trí tuệ và chất lượng hàng hóa; trị giá hàng hóa vi phạm hơn 5,1 tỷ đồng, gồm trên 1,2 tỷ đồng hàng hóa bị tiêu hủy.

Những mặt hàng bị phát hiện vi phạm trải từ thời trang, trang sức, phụ tùng xe máy, phụ kiện điện thoại đến phân bón, thức ăn chăn nuôi và thực phẩm. Hành vi vi phạm cũng khác nhau, gồm buôn bán hàng giả mạo nhãn hiệu, xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, hàng giả không có giá trị sử dụng hoặc công dụng và hàng hóa kém chất lượng.
Đằng sau các vụ việc được xử lý là khó khăn trong việc lần theo đường đi của hàng hóa. Trên mạng xã hội và sàn thương mại điện tử, nhiều sản phẩm được quảng cáo với giá thấp hơn đáng kể so với hàng chính hãng. Nhu cầu mua hàng mang thương hiệu với giá rẻ của một bộ phận người tiêu dùng tạo thêm điều kiện để hàng giả, hàng nhái tìm được đầu ra.
Thông tin hiện diện trên gian hàng lại không phải lúc nào cũng đủ để xác định người bán và nơi xuất hàng. Một số đối tượng dùng tài khoản ảo, thay đổi số liên lạc hoặc địa điểm tập kết hàng hóa để né tránh kiểm tra. Khi sản phẩm được gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh nhưng thiếu thông tin người gửi, địa chỉ xuất hàng, việc truy nguồn càng mất thời gian.
Khó khăn còn xuất hiện ngay tại các cơ sở kinh doanh. Có nơi nhập hàng trôi nổi trên mạng, có nơi mua từ người đến chào bán nhưng không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp. Đến khi bị kiểm tra, người bán không cung cấp được thông tin về nơi mua hàng, khiến quá trình xác minh nguồn cung và trách nhiệm của các bên liên quan kéo dài.
Việc phát hiện sản phẩm có dấu hiệu vi phạm cũng chưa đồng nghĩa có thể sớm hoàn tất xử lý. Theo Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Đồng Tháp, trong nhiều trường hợp, phân biệt hàng thật, hàng giả hoặc xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cần kết luận giám định hay xác nhận từ chủ thể quyền. Thời gian chờ đợi ảnh hưởng đến tiến độ xử lý vi phạm hành chính.
Với hàng hóa kém chất lượng, trở ngại lại nằm ở việc xác định chất lượng suy giảm từ khâu nào. Đối với phân bón, thức ăn chăn nuôi, khi vi phạm được phát hiện tại điểm bán, nơi sản xuất có thể không còn mẫu cùng lô để kiểm nghiệm, đối chiếu.

Trong khi đó, doanh nghiệp có thể xuất trình hồ sơ kiểm nghiệm trước khi xuất xưởng và cho rằng chất lượng hàng hóa bị ảnh hưởng trong quá trình bảo quản tại khâu phân phối. Thiếu mẫu cùng lô khiến việc làm rõ trách nhiệm của nhà sản xuất gặp khó, ngay cả khi hàng hóa tại cơ sở kinh doanh đã bị phát hiện không bảo đảm chất lượng.
Những vướng mắc từ thị trường cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với người thực hiện nhiệm vụ. Năng lực chuyên môn về sở hữu trí tuệ và công nghệ số của một bộ phận công chức còn chưa đồng đều; kỹ năng nhận diện hàng giả trên mạng, thu thập chứng cứ điện tử vẫn có hạn chế. Việc trao đổi thông tin giữa cơ quan chức năng, doanh nghiệp và chủ thể quyền đôi lúc chưa theo kịp yêu cầu xác minh vụ việc.
Kết quả xử lý trong 10 tháng cho thấy hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và hàng kém chất lượng vẫn hiện diện ở nhiều nhóm sản phẩm. Với hàng hóa được quảng cáo, giao dịch trên mạng rồi chuyển đến người mua qua nhiều khâu, công tác kiểm soát cần làm rõ được mối liên hệ giữa tài khoản bán hàng, nơi tập kết và nguồn cung.
Muốn xử lý đến nguồn hàng, việc kiểm tra tại điểm bán cần được hỗ trợ bằng thông tin truy xuất, kết quả giám định và sự phối hợp kịp thời từ chủ thể quyền. Đồng thời, nâng kỹ năng khai thác dữ liệu, thu thập chứng cứ điện tử cho lực lượng thực thi là yêu cầu thiết thực để rút ngắn quá trình xác minh, bảo vệ người tiêu dùng và quyền lợi của doanh nghiệp kinh doanh hợp pháp.
L.T – H.G










