Giá lúa tươi trong ngày 15.8.2026 được dự báo chưa có biến động lớn.

IR 50404 có thể tiếp tục dao động quanh 6.300 - 6.450 đồng/kg. OM 5451 nhiều khả năng giữ vùng 6.700 - 6.850 đồng/kg.

Đài Thơm 8 và OM 18 vẫn là hai giống có khả năng giữ giá khá tốt, phổ biến quanh 6.900 - 7.050 đồng/kg. Trong khi đó, OM 34 dự kiến tiếp tục ở vùng 6.100 - 6.300 đồng/kg.

Nhìn chung, dù lượng lúa thu hoạch đang tăng, áp lực giảm giá chưa rõ rệt bởi nông dân vẫn có xu hướng neo giá.

Tại An Giang, nguồn lúa thơm tiếp tục được bổ sung khi bước vào cao điểm thu hoạch. Tuy nhiên, người trồng lúa chưa có tâm lý bán nhanh, khiến giá vẫn duy trì khá ổn định.

Tại Đồng Tháp, Cần Thơ, Cà Mau và Vĩnh Long, giao dịch được dự báo tiếp tục diễn ra chậm. Thương lái chủ yếu mua theo nhu cầu thực tế thay vì gom mạnh.

Ở Tây Ninh, nhu cầu đối với những diện tích lúa còn xa ngày thu hoạch vẫn tương đối tích cực. Yếu tố này giúp hỗ trợ mặt bằng giá tại một số khu vực.

Sự giằng co giữa nguồn cung tăng và tâm lý giữ giá của người bán khiến thị trường khó xuất hiện một đợt điều chỉnh mạnh trong ngày 15/8/2026.

Gạo nguyên liệu tiếp tục là phân khúc đáng chú ý hơn so với lúa tươi.

IR 504 hiện giữ vùng 9.800 - 9.900 đồng/kg và có thể tiếp tục duy trì mức cao trong ngày 15.8.2026.

CL 555 đang được giao dịch quanh 9.900 - 9.950 đồng/kg. Nếu nhu cầu mua phục vụ xuất khẩu cải thiện, mặt hàng này có khả năng xuất hiện mức 10.000 đồng/kg tại một số điểm giao dịch.

OM 5451 được dự báo dao động trong vùng 9.300 - 9.450 đồng/kg. OM 18 nhiều khả năng tiếp tục đi ngang ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg.

Đài Thơm 8 có thể giữ vùng 9.200 - 9.450 đồng/kg, trong khi OM 380 và Sóc thơm chưa có tín hiệu tăng rõ.

Diễn biến của IR 504 và CL 555 cho thấy nhu cầu đối với nhóm nguyên liệu phục vụ chế biến và xuất khẩu vẫn tương đối tốt.

Đặc biệt, CL 555 đang tiến sát mốc 10.000 đồng/kg. Nếu doanh nghiệp tăng mua trong ngắn hạn, đây có thể là một trong những mặt hàng tăng trước.

Tuy nhiên, khả năng tăng mạnh trên diện rộng chưa cao bởi nguồn lúa nguyên liệu đang được bổ sung theo tiến độ thu hoạch.

Do đó, kịch bản dễ xảy ra nhất vẫn là giá tăng cục bộ ở một vài chủng loại trong khi phần lớn thị trường đi ngang.

Thị trường bán lẻ được dự báo tiếp tục ổn định.

Gạo Nàng Nhen vẫn đứng ở mức cao nhất trong nhóm khảo sát, khoảng 28.000 đồng/kg. Hương Lài phổ biến khoảng 22.000 đồng/kg.

Gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg, Nàng Hoa khoảng 21.000 đồng/kg.

Jasmine giữ khoảng 16.500 - 17.500 đồng/kg, Đài Thơm 15.000 - 16.000 đồng/kg, gạo trắng thông dụng khoảng 16.000 đồng/kg.

Gạo thường tiếp tục nằm trong vùng 13.500 - 14.500 đồng/kg.

Việc giá bán lẻ gần như đi ngang cho thấy những biến động ở thị trường nguyên liệu chưa tác động đáng kể đến giá tiêu dùng.

Thu Trang