Chỉ tính riêng 10 tháng đầu năm 2013, khu vực nông nghiệp, nông thôn đã có mức tăng trưởng tín dụng đạt 20%, cao gần gấp 3 lần mức tăng trưởng 6,8% của nền kinh tế. Nhằm thúc đẩy và phát triển toàn diện kinh tế nông thôn, nhiều chính sách tiền tệ đã được ban hành, tuy nhiên vẫn không ít khu vực nông thôn chưa thể tiếp cận với những ưu đãi từ chính sách.
Thành công từ chính sách mở
Nhận thấy phát triển kinh tế nông thôn là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, Chính phủ đã chỉ đạo NHNN và các tổ chức tín dụng (TCTD) nỗ lực thúc đẩy và phát huy hiệu quả hoạt động tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn (gọi tắt là TDNT). Ngày 12/4/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định 41/2010/NĐ-CP về chính sách TDNT, thay thế Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 30/3/1999.
Chỉ trong 3 năm thực hiện, Nghị định 41 đã phát huy nhiều hiệu quả. Cụ thể, năm 2010, dư nợ TDNT đạt 381.900 tỷ đồng, nhưng đến hết quý II/2013 con số này đã lên tới 621.584 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 20% tổng dư nợ cho vay của cả nền kinh tế. Nghị định 41 đã mở rộng sự tham gia của các TCTD trong phát triển nông nghiệp, nông thôn, chứ không bó hẹp ở vai trò chủ lực của Agribank, qua đó khẳng định vai trò tích cực của các TCTD trong các hoạt động tín dụng tham gia xây dựng, phát triển kinh tế nông thôn.
Theo nghị định này, đối tượng được tiếp cận vốn là những chủ DN hoặc cá nhân cư trú hoặc có cơ sở, dự án sản xuất, kinh doanh trên địa bàn nông thôn, vay vốn từ nguồn vốn của các TCTD. Nếu là đối tượng thuộc chính sách, thì ngoài các nguồn vay từ TCTD còn được bổ sung thêm nguồn vốn vay của NHNN. Bên cạnh đó, định mức cho vay không có bảo đảm bằng tài sản cũng đã được nâng lên, ở mức 50 triệu đến 500 triệu đồng (lớn hơn rất nhiều lần mức 10 triệu/hợp đồng vay năm 1999). Khách hàng được sử dụng giấy xác nhận của UBND cấp xã, nếu chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đất không có tranh chấp…
Còn khó khăn trong tiếp cận vốn
Hiện mức lãi suất tối đa NHNN quy định cho vùng nông thôn là 9%/năm, nhưng nhiều đối tượng ở nông thôn vẫn gặp khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn vay. Bởi trên thực tế, sản xuất, kinh doanh ở nông thôn sinh lời thấp, thiếu sự quy hoạch đồng bộ, đầu ra sản phẩm không ổn định, có nhiều rủi ro khách quan do thiên tai, dịch bệnh… NHNN đã phối hợp với Bộ Tài chính chủ động đưa ra những quy định cụ thể về nguyên tắc trích lập dự phòng rủi ro và xử lý rủi ro, hướng dẫn cụ thể việc trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro đối với cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Theo ThS. Nguyễn Thị Hiền, Viện Chiến lược Ngân hàng, việc nâng định mức cho vay với các đối tượng không có tài sản thế chấp chính là những nguy cơ rủi ro, dẫn đến nợ xấu có thể phát triển trên diện rộng.
Mới đây, LienVietPostBank đã đưa ra sáng kiến cho vay nông nghiệp, nông thôn có bảo hiểm lãi suất tại ĐBSCL. NH này đã phối hợp với Tổng công ty CP Bảo hiểm Bưu điện và hội cựu chiến binh các tỉnh ĐBSCL ký thỏa thuận hợp tác triển khai Đề án 5.000 tỷ đồng cho vay ưu đãi nông nghiệp, nông thôn có bảo hiểm từ thiện lãi suất trong giai đoạn 2013 - 2015. Đây là một trong những sáng kiến nhằm lấp đầy những thiếu hụt trong hoạt động TDNT.
Tuy nhiên, theo bà Hiền, để hoạt động TDNT phát huy bền vững, Chính phủ và các bộ, ngành cần sớm điều chỉnh, bổ sung để đưa bảo hiểm nông nghiệp đi vào cuộc sống, giúp nông dân yên tâm vay vốn sản xuất. NHNN cần đẩy mạnh và đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền về cơ chế, chính sách tiền tệ, tín dụng cũng như các dịch vụ, sản phẩm, tạo sự đồng thuận trong quá trình thực hiện; ưu tiên cấp phép và có những chính sách ưu đãi, khuyến khích các tổ chức tín dụng mở rộng, phát triển mạng lưới trên địa bàn nông thôn, miền núi, nhất là vùng sâu, vùng xa.
Nguyễn Hạnh






















