Khu vực dịch vụ được kỳ vọng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng

Báo cáo nêu rõ, khu vực dịch vụ được kỳ vọng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong năm 2026, nhờ sự phục hồi của du lịch và các hoạt động dựa trên công nghệ gia tăng. Việc nới lỏng thị thực, tăng cường xúc tiến quảng bá và nâng cao chất lượng dịch vụ tiếp tục hỗ trợ lượng khách đến, đạt gần 4,7 triệu lượt vào tháng 2 năm 2026, tăng 18,1% so với cùng kỳ. Chuyển đổi số cũng góp phần hỗ trợ các dịch vụ tài chính và bán lẻ. Tuy nhiên, sự bất ổn của kinh tế toàn cầu có thể ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch. Nhìn chung, khu vực dịch vụ dự kiến tăng khoảng 7,5% trong năm 2026.

Tăng trưởng nông nghiệp dự kiến duy trì ổn định ở mức 3,6% trong năm 2026, giảm nhẹ so với mức 3,8% của năm 2025. Nhu cầu bên ngoài tiếp tục được duy trì và việc tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do sẽ hỗ trợ ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, nông nghiệp có thể chịu áp lực lớn hơn từ biến đổi khí hậu khi hiện tượng El Niño làm gia tăng hạn hán và xâm nhập mặn, đặc biệt tại đồng bằng sông Cửu Long, đe dọa sản lượng lúa và nuôi trồng thủy sản. Chi phí đầu vào gia tăng - liên quan đến giá năng lượng và phân bón toàn cầu ở mức cao có thể tạo thêm sức ép. Bên cạnh đó, những điều chỉnh chính sách thuế của Hoa Kỳ trong tương lai, cùng với các yêu cầu khắt khe hơn về tính bền vững và truy xuất nguồn gốc, có thể ảnh hưởng đến xuất khẩu nông sản.

Về phía cầu, tiêu dùng trong nước có thể chịu tác động của việc giảm chi tiêu hộ gia đình và tín dụng ngân hàng thắt chặt hơn. Doanh số bán lẻ tiếp tục tăng, với xu hướng tiêu dùng chuyển dần sang dịch vụ.

Kinh tế Việt Nam vẫn duy trì khả năng chống chịu vững vàng trước thách thức toàn cầu. Ảnh minh họa
Kinh tế Việt Nam vẫn duy trì khả năng chống chịu vững vàng trước thách thức toàn cầu. Ảnh minh họa

Đầu tư tiếp tục là động lực chính của tăng trưởng trong năm 2026. Chính phủ đặt mục tiêu đẩy nhanh giải ngân đầu tư công - ước khoảng 38 tỷ USD, đặc biệt cho hạ tầng, qua đó hỗ trợ hoạt động xây dựng. Tuy nhiên, dòng vốn FDI có thể giảm trong bối cảnh đầu tư toàn cầu chậm lại và mức độ bất định gia tăng. Nhiều nhà đầu tư có xu hướng mở rộng hoạt động hiện có thay vì triển khai dự án mới. Bên cạnh đó, việc áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu, cùng với những nút thắt về hạ tầng và thủ tục hành chính, có thể làm chậm dòng vốn FDI đăng ký mới. Tính đến ngày 28 tháng 2 năm 2026, vốn FDI đăng ký mới đạt 6,0 tỷ USD, giảm 12,6% so với cùng kỳ năm trước, trong khi vốn FDI thực hiện tăng 8,8% lên mức 3,2 tỷ USD.

Triển vọng thương mại trong năm 2026 nhiều khả năng suy yếu trong bối cảnh cầu thế giới chững lại. Trong tháng 2, tổng kim ngạch thương mại hàng hóa đạt 67,2 tỷ USD, giảm so với tháng trước nhưng tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu trong 2 tháng đầu năm, dẫn đến thâm hụt thương mại 3,0 tỷ USD. Trong thời gian tới, tăng trưởng chậm lại ở các đối tác thương mại lớn, sự bất ổn liên quan đến chính sách thuế của Hoa Kỳ, cùng với biến động tỷ giá và nguy cơ gián đoạn chuỗi cung ứng có thể làm tăng trưởng thương mại chậm lại.

Lạm phát dự báo tăng nhẹ lên 4,0% trong năm 2026. Giá dầu thế giới tăng và biến động mạnh do xung tại Trung Đông kéo dài, điều kiện cung ứng toàn cầu thay đổi, nỗ lực đa dạng hóa nguồn nhập khẩu của Việt Nam, và các biện pháp quản lý cầu sẽ tạo thêm rủi ro lạm phát. Chính sách tài khóa mở rộng và tiền tệ nới lỏng có thể gia tăng áp lực giá thông qua thúc đẩy cầu nội địa. Việc đẩy nhanh đầu tư công, tăng trưởng tín dụng và đồng Việt Nam mất giá cũng có thể làm tăng áp lực chi phí trong nước. Lạm phát dự báo giảm còn 3,8% trong năm 2027 khi giá hàng hóa toàn cầu ổn định và áp lực cầu nội địa dịu bớt…

Cần nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, đa dạng hóa nguồn cung

Báo cáo Triển vọng Phát triển châu Á tháng 4 năm 2026, ấn phẩm kinh tế thường niên chủ chốt của ADB, tiếp tục duy trì triển vọng tích cực cho Việt Nam trong ngắn hạn. Hoạt động xuất khẩu mạnh mẽ trước khi Hoa Kỳ điều chỉnh các mức thuế đối ứng, chính sách hỗ trợ và đầu tư được duy trì ổn định đã giúp kinh tế Vệt Nam tăng trưởng vững chắc trong năm qua. Tuy nhiên, các biện pháp thương mại của Hoa Kỳ đang thay đổi, xung đột tại Trung Đông và những bất định toàn cầu ở phạm vi sâu rộng hơn có thể hạn chế xuất khẩu và dòng vốn đầu tư, làm gia tăng áp lực lên triển vọng tăng trưởng trong năm nay.

Giám đốc Quốc gia của ADB tại Việt Nam, ông Shantanu Chakraborty, cho biết: “Chính phủ Việt Nam đã phản ứng nhanh chóng trước tình trạng gián đoạn nguồn cung năng lượng do xung đột tại Trung Đông gây ra. Các biện pháp tài khóa có thời hạn, bao gồm giảm thuế, sử dụng quỹ bình ổn, kết hợp với điều hành giá linh hoạt và tăng cường phối hợp đảm bảo nguồn cung, đã góp phần kiềm chế áp lực lạm phát trong ngắn hạn và hỗ trợ tăng trưởng. Về dài hạn, việc nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, đa dạng hóa nguồn cung và đẩy nhanh tiến độ chuyển dịch sang năng lượng sạch sẽ đóng vai trò then chốt, giúp giảm tính dễ tổn thương trước các cú sốc trong tương lai”.

Các rủi ro suy giảm vẫn ở mức đáng kể. Cuộc xung đột kéo dài tại Trung Đông có thể làm gián đoạn dòng chảy dầu, khí và phân bón qua eo biển Hormuz, làm tăng chi phí vận chuyển và gây chậm trễ. Cùng với xung đột tại U-crai-na, các diễn biến này làm gia tăng biến động giá hàng hóa và tiếp tục gây áp lực lên chuỗi cung ứng toàn cầu. Tăng trưởng chậm lại tại các đối tác thương mại lớn cũng có thể thu hẹp thặng dư thương mại và làm giảm tốc độ tăng trưởng của Việt Nam.

Xét từ góc độ hành động chính sách, việc củng cố thị trường trái phiếu doanh nghiệp là yếu tố thiết yếu nhằm huy động nguồn tài chính dài hạn ngoài tín dụng ngân hàng và hỗ trợ đầu tư bền vững. Tăng cường tính minh bạch, bảo đảm khung pháp lý nhất quán và mở rộng sự tham gia của các chủ thể trên thị trường sẽ là các mấu chốt để cải thiện niềm tin của nhà đầu tư và nâng cao hiệu quả thị trường. Nếu được triển khai hiệu quả, những cải cách đang thúc đẩy trong lĩnh vực này có thể giúp định vị thị trường trái phiếu doanh nghiệp thành nguồn cung tài chính dài hạn ổn định, phục vụ cho tăng trưởng bền vững và bao trùm.  

Minh Anh