Masan (MSN): Khuyến nghị mua, giá mục tiêu 100.400 đồng/cp
Kết phiên 17/3, cổ phiếu MSN tăng 2,6% lên 75.400 đồng/cp. Thanh khoản ghi nhận gần 8,5 triệu đơn vị giao dịch, với giá trị tương ứng đạt 636,5 tỷ đồng. Khối ngoại mua ròng 130 tỷ đồng, cao thứ 3 toàn thị trường, đồng thời đánh dấu phiên mua ròng thứ 5 liên tiếp (379,4 tỷ đồng).
Mới đây, hệ thống bán lẻ WinCommerce (WCM) – đơn vị vận hành chuỗi WinMart và WinMart+ thuộc Masan Group ghi nhận khởi đầu tích cực trong 2 tháng đầu năm 2026. Cụ thể, doanh thu thuần của WinCommerce đạt 7.872 tỷ đồng (+32,2% YoY). Doanh thu của nhóm cửa hàng hiện hữu (LFL) cũng tăng 16,7%, cho thấy sức mua tại các điểm bán hiện tại tiếp tục cải thiện.
WinCommerce đã mở mới 145 cửa hàng, nâng tổng số điểm bán lên 4.737 cửa hàng trên toàn quốc. Mạng lưới này bao gồm nhiều mô hình cửa hàng khác nhau. Chuỗi WiN hiện có 763 cửa hàng, tăng thêm 5 cửa hàng so với cuối năm 2025. Hệ thống WinMart+ tại khu vực thành thị đạt 1.781 cửa hàng, tăng thêm 17 điểm bán.

Trong khi đó, WinMart+ khu vực nông thôn tiếp tục là mô hình được mở rộng mạnh nhất với 2.063 cửa hàng, tăng thêm 123 cửa hàng chỉ trong hai tháng. Riêng hệ thống siêu thị WinMart duy trì 130 cửa hàng, chưa mở mới trong giai đoạn này.
Xét theo khu vực, miền Bắc hiện là thị trường lớn nhất của WinCommerce với 2.548 cửa hàng, trong đó có 123 cửa hàng được mở mới trong hai tháng đầu năm. Tại miền Trung, hệ thống có 1.131 cửa hàng, tăng thêm 23 cửa hàng, trong khi miền Nam có 1.058 cửa hàng, giảm nhẹ 1 cửa hàng trong kỳ.
Theo Masan, việc tập trung mở rộng tại miền Bắc và miền Trung không chỉ giúp hệ thống củng cố vị thế dẫn đầu tại các khu vực này mà còn gia tăng “lợi thế sân nhà” nhờ quy mô mạng lưới ngày càng lớn và mật độ cửa hàng dày hơn.
Bên cạnh đó, Masan Consumer cũng vừa cập nhật kết quả kinh doanh lũy kế hai tháng đầu năm 2026 với doanh thu thuần đạt 5.160 tỷ đồng, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước.
Ở mảng khoáng sản, đầu tháng 3, Công ty TNHH Khai thác Chế biến Khoáng sản Núi Pháo – đơn vị thuộc Masan High-Tech Materials đã công bố báo cáo đề xuất cấp Giấy phép môi trường cho dự án khai thác và chế biến khoáng sản Núi Pháo. Dự án đặt tại xã An Khánh, tỉnh Thái Nguyên, có tổng vốn đầu tư khoảng 10.939 tỷ đồng và quy mô sử dụng đất khoảng 630ha.
Mỏ Núi Pháo khai thác nhiều loại khoáng sản như vonfram, fluorit, bismuth, đồng và vàng, trong đó vonfram là sản phẩm chủ lực. Theo các tổ chức nghiên cứu thị trường, Núi Pháo hiện được xem là mỏ vonfram lớn nhất ngoài Trung Quốc, đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng vật liệu công nghệ cao toàn cầu.
Theo dự báo của Chứng khoán SSI, Masan High-Tech Materials có thể đạt doanh thu khoảng 14.000 tỷ đồng trong năm 2026, tăng 87%; lợi nhuận sau thuế khoảng 2.100 tỷ đồng, gấp 190 lần so với mức 11 tỷ đồng của năm 2025.
Vietcombank (VCB): Khuyến nghị mua, giá mục tiêu 75.500 đồng/cp
Kết phiên 17/3, cổ phiếu VCB tăng 2,9% lên 60.500 đồng/cp. Thanh khoản ghi nhận hơn 7,1 triệu đơn vị giao dịch, với giá trị tương ứng đạt 428 tỷ đồng. Khối ngoại mua ròng đột biến 77,2 tỷ đồng, cao thứ 4 toàn thị trường.
Trong báo cáo công bố mới đây, Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV) đưa ra khuyến nghị mua đối với cổ phiếu Vietcombank, với giá mục tiêu 75.500 đồng/cp, cao hơn khoảng 24,8% so với thị giá hiện tại.
Theo nhóm phân tích, Vietcombank vẫn là một trong những ngân hàng có nền tảng tài chính vững chắc nhất hệ thống nhờ chất lượng tài sản tốt, chi phí vốn thấp và khả năng duy trì tăng trưởng ổn định trong nhiều năm.
Giá mục tiêu được xây dựng dựa trên hai phương pháp định giá gồm P/B và chiết khấu lợi nhuận thặng dư, với tỷ trọng lần lượt 70% và 30%. Việc kết hợp hai phương pháp giúp phản ánh rõ hơn lợi thế định giá của Vietcombank so với nhiều ngân hàng khác trên thị trường.
Theo KBSV, với vị thế đầu ngành cùng nền tảng tài chính mạnh, Vietcombank thường được thị trường chấp nhận mức định giá cao hơn mặt bằng chung của ngành ngân hàng.
Cơ cấu tín dụng của Vietcombank hiện tập trung vào các khách hàng có chất lượng tài chính tốt, trong đó doanh nghiệp lớn chiếm gần 49% danh mục cho vay, còn khách hàng cá nhân chiếm khoảng 45%. Nhờ chiến lược thận trọng trong quản trị rủi ro, ngân hàng tiếp tục duy trì chất lượng tài sản thuộc nhóm tốt nhất toàn hệ thống.
Theo báo cáo của KBSV, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng hiện khoảng 0,58%, thấp nhất trong nhóm các ngân hàng lớn. Đồng thời, tỷ lệ bao phủ nợ xấu lên tới 258%, cho thấy ngân hàng đã trích lập dự phòng rất mạnh trong các năm trước. Bộ đệm dự phòng lớn giúp Vietcombank có dư địa linh hoạt trong xử lý rủi ro tín dụng, đồng thời giảm áp lực chi phí dự phòng trong các năm tới.
Bước sang năm 2026, KBSV dự báo tín dụng của Vietcombank có thể tăng khoảng 15,5%. Động lực tăng trưởng đến từ 3 yếu tố: (1) Vietcombank có khả năng được cấp hạn mức tín dụng cao hơn trung bình ngành nhờ tham gia tái cơ cấu các ngân hàng yếu kém; (2) Việc đẩy mạnh đầu tư công được kỳ vọng thúc đẩy nhu cầu vốn của doanh nghiệp hạ tầng và xây lắp – những lĩnh vực Vietcombank có lợi thế cho vay; (3) Sự phục hồi của thương mại toàn cầu và hoạt động xuất nhập khẩu sẽ mang lại lợi thế cho Vietcombank nhờ hệ sinh thái tài trợ thương mại phát triển.

Một yếu tố khác hỗ trợ triển vọng lợi nhuận là biên lãi ròng (NIM) được dự báo cải thiện. Theo kịch bản cơ sở của KBSV, NIM của Vietcombank có thể đạt khoảng 2,73% trong năm 2026, tăng so với mức 2,62% của năm trước.
Gemadept (GMD): Khuyến nghị khả quan, giá mục tiêu 95.000 đồng/cp
Kết phiên 17/3, cổ phiếu GMD tăng 2,7% lên 76.000 đồng/cp. Thanh khoản ghi nhận hơn 1,6 triệu đơn vị giao dịch, với giá trị tương ứng đạt 124 tỷ đồng.
Chứng khoán SSI vừa điều chỉnh tăng giá mục tiêu năm 2026 lên 95.000 đồng/cp theo phương pháp định giá DCF, tương đương tiềm năng tăng giá khoảng 25%, đồng thời duy trì khuyến nghị khả quan.
Tại mức giá hiện tại, GMD đang giao dịch ở mức P/E 2026 khoảng 16,4 lần – vẫn nằm trong vùng lịch sử, cho thấy tiềm năng định giá hấp dẫn trong bối cảnh triển vọng tăng giá dịch vụ rõ ràng hơn, sản lượng tăng trưởng tốt tại Gemalink và công suất được mở rộng từ Nam Đình Vũ giai đoạn 3.
Về luận điểm đầu tư, GMD duy trì vị thế dẫn đầu nhờ sở hữu các cảng có vị trí chiến lược tại hai khu vực tăng trưởng nhanh nhất là Cái Mép – Thị Vải (Gemalink) và Hải Phòng (Nam Đình Vũ).
Gemalink là một trong số ít cảng còn dư địa công suất, hỗ trợ tăng trưởng sản lượng của cụm cảng Cái Mép (khoảng 15%/năm), qua đó giúp GMD hưởng lợi trong dài hạn từ xu hướng tăng sản lượng và giá dịch vụ.
Giá xếp dỡ hàng hóa tăng cũng là yếu tố thúc đẩy lợi nhuận. Mức giá sàn dịch vụ tại các cảng nước sâu gần đây đã được điều chỉnh tăng 8–10%. SSI kỳ vọng giá dịch vụ bình quân (ASP) tại Gemalink sẽ tăng khoảng 10% so với cùng kỳ, nhờ tình trạng khan hiếm công suất và lợi thế vị trí.
Trong dài hạn, dư địa tăng trưởng của GMD đến từ việc mở rộng công suất. Nam Đình Vũ giai đoạn 3 đã đi vào vận hành, nâng tổng công suất lên 2 triệu TEU/năm. Trong khi đó, Gemalink giai đoạn 2A (800.000 TEU) dự kiến khởi công trong nửa đầu năm 2026 và hoàn thành vào nửa cuối năm 2027.

Trong bối cảnh chưa có thêm dự án mở rộng đáng kể tại khu vực Cái Mép trước năm 2030, GMD được kỳ vọng hưởng lợi từ tình trạng thiếu hụt công suất trong ít nhất 5 năm tới.
Minh Minh
























