Tháng 9/2026, xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam đạt gần 86 triệu USD, tăng 18% so với cùng kỳ năm trước. Đây là tháng thứ tư liên tiếp ngành hàng này ghi nhận tăng trưởng.
Lũy kế 9 tháng, kim ngạch xuất khẩu cá ngừ đạt gần 720 triệu USD, tăng 6%. Đáng chú ý, sau giai đoạn giảm 6–15% trong các tháng 2–5, xuất khẩu đã phục hồi từ tháng 6. Riêng giai đoạn tháng 6–9, kim ngạch đạt hơn 353 triệu USD, tăng khoảng 19% so với cùng kỳ.
Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu cá ngừ lớn nhất của Việt Nam. Trong 9 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đạt hơn 280 triệu USD, tăng 9%, chiếm gần 39% tổng kim ngạch.

Kết quả tăng trưởng của cá ngừ Việt Nam diễn ra trong bối cảnh tổng nhập khẩu cá ngừ của Mỹ trong 8 tháng đầu năm suy giảm, cho thấy xuất khẩu của Việt Nam vẫn duy trì đà tăng tích cực dù sức mua chung chưa phục hồi rõ nét.
Đà phục hồi xuất khẩu cá ngừ sang Mỹ tập trung chủ yếu ở nhóm thịt/loin cá ngừ đông lạnh, trong khi cá ngừ đóng hộp tăng trưởng chậm hơn. Diễn biến này cho thấy nhu cầu nguyên liệu sơ chế từ các nhà hàng, dịch vụ thực phẩm và cơ sở chế biến đang cải thiện, còn phân khúc hàng đóng hộp vẫn chịu sức ép cạnh tranh và chi phí.
Bên cạnh đó, những thay đổi về sản lượng, chi phí logistics và thuế quan tại các quốc gia cung ứng tạo thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị phần tại Mỹ.
Ở thị trường châu Âu, Việt Nam và Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA) đã ký Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EFTA (VEFTA) tại Hà Nội. Hiệp định bao gồm các lĩnh vực như thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, hải quan, kiểm dịch động thực vật và phát triển bền vững.
VEFTA được kỳ vọng thúc đẩy thương mại thủy sản giữa Việt Nam với bốn thành viên EFTA là Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein, đồng thời mở rộng hợp tác trong chế biến, công nghệ và phát triển chuỗi cung ứng.
Tuy nhiên, hiệp định hiện vẫn đang chờ có hiệu lực. Các ưu đãi thuế quan chỉ được áp dụng khi đáp ứng đầy đủ điều kiện và thời điểm thực thi theo quy định.
Hà Trần (t/h)










