Mặc dù đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, song các DNNVV lại luôn gánh đủ khó khăn, đặc biệt khó tiếp cận vốn. Đó là nhận định của TS. Phạm Ngọc Long, Viện trưởng Viện Khoa học quản trị DNNVV Việt Nam.

Ông đánh giá như thế nào về sự phát triển của các DNNVV trong nền kinh tế hiện nay?

Cộng đồng DNNVV là một trong 4 động lực phát triển kinh tế đất nước bên cạnh DN FDI, DNNN và DN khu vực nông nghiệp.

Hiện khu vực này có vai trò rất lớn: đóng góp vào GDP hàng năm khoảng 40%, xuất khẩu khoảng 30%, giá trị sản lượng công nghiệp hàng năm 36%, tạo việc làm cho 51% lao động. Đặc biệt, trong chiến lược chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế hiện nay, DNNVV giữ vai trò quan trọng.

Tuy nhiên, khó khăn đối với DNNVV đang nổi lên ở năm vấn đề. Đó là: Khó tiếp cận được mặt bằng để sản xuất, kinh doanh; chậm đổi mới công nghệ; khó khăn ở thị trường đầu ra; gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn, đặc biệt là vốn hỗ trợ của Nhà nước, cũng như vốn tín dụng; trình độ quản lý ở các DNNVV chưa cao.

Đơn cử, đổi mới công nghệ: Hiện máy móc, thiết bị được sử dụng ở các DN này đang lạc hậu đến 2 - 3 thế hệ so với mặt bằng chung thế giới; 88% máy móc lạc hậu hoặc ở mức trung bình, trung bình khá. Chỉ 15% DNNVV tiếp cận được máy móc thiết bị hiện đại. Bởi lẽ, để đầu tư vào trang thiết bị, máy móc là hết sức tốn kém trong khi, tiềm lực tài chính của DNNVV lại trong tình trạng suy kiệt.

Theo ông, việc huy động vốn của DNNVV hiện nay đang gặp những khó khăn gì?

Tính đến hết tháng 10/2014, tăng trưởng tín dụng cho khu vực DNNVV chỉ 2,03%. Hiện tỷ trọng tín dụng cho DNNVV chỉ chiếm 25% trong cả nền kinh tế. Như vậy, việc phân bổ vốn của toàn xã hội cho khu vực DNNVV chưa nhiều, chưa đủ, chưa đúng, chưa xứng với tiềm năng, thế mạnh của nó.

Hơn nữa, hiện nay, tỷ lệ nợ xấu còn ở mức cao nên việc tiếp cận vốn ngân hàng của DNNVV gặp những trở ngại từ những điều kiện thủ tục tín dụng mà các ngân hàng áp đặt quá sức. Do đó, nếu không có những đổi mới về cơ chế, chính sách; điều chỉnh cả về mô hình, quy chế, quy trình tín dụng phù hợp… thì càng khó khăn cho khu vực này.

Mức lãi suất cho các DNNVV hiện nay, liệu có quá sức chịu đựng của các DN này?

Theo công bố, cho vay ngắn hạn của DNNVV đang nằm trong khoảng 5 - 8%. Để tiếp cận mức lãi suất 5 - 6%, DN phải thuộc 5 lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ và là những khách hàng tốt. Thông thường, vay ngắn hạn đối với các DNNVV ở mức lãi suất 7 - 8%. Lãi suất cho vay trung và dài hạn 9 - 10%.

Tuy nhiên, trên thực tế, chúng tôi quan sát được thì không hẳn như vậy. Vì xếp hạng rủi ro đối với DNNVV tương đối cao, điều kiện thủ tục lại khó khăn, đặc biệt là vấn đề tài sản đảm bảo, thế chấp của các DNNVV khi vay ngân hàng… nên lãi suất mà ngân hàng áp cho DNNVV hiếm khi được ở mức như công bố. Trải qua khó khăn, hiện đang trong quá trình hồi phục, tái cơ cấu lại nên tỷ suất lợi nhuận đối với DNNVV có thể đạt được là trên dưới 10%. Khối DN này vẫn kỳ vọng mặt bằng lãi suất đối với họ có thể điều chỉnh giảm thêm.

Hiện lãi suất đã giảm sâu. Tuy nhiên, DNNVV vẫn kêu lãi suất cao. Thậm chí, nhiều DN thờ ơ. Phải chăng, dù lãi suất có giảm nữa thì cũng chưa thể “hút” DN?

Mặt bằng lãi suất đã - đang và sẽ còn có thể tiếp tục giảm. Hướng đến những lĩnh vực, những ngành hàng, những DNNVV có dự án phương án tốt giúp họ thoát nhanh khỏi khó khăn, lãi suất cần giảm tiếp.

Đối với những DN hoạt động tốt, có thể chấp nhận được lãi suất thông thường trên thị trường. Bên cạnh đó, còn có những DN mới gần như DN ngoài chính sách, mới khởi nghiệp hay đã phá sản xong thành lập lại, hay những DN có nhu cầu đổi mới công nghệ, thiết bị thì nhu cầu vốn rất lớn. Song, do những chính sách của các ngân hàng chậm chuyển đổi, cơ chế, quy trình tín dụng vẫn theo nếp cũ nên gây không ít khó khăn cho DN.

Đáng chú ý, qua khảo sát, nhiều DN trả lời thẳng thừng: Không có nhu cầu vay vốn! Lý do đơn giản, bởi họ thấy thị trường không có triển vọng, tổng cầu nền kinh tế thấp, sức mua thấp, thị trường đầu ra khó khăn nên không đầu tư mở rộng. Tắc vốn do đó là chuyện đương nhiên.

Rõ ràng, cần phải giải quyết từ chủ trương, thủ tục, chính sách đến môi trường pháp lý trong giải quyết nhu cầu vốn cho DNNVV. Đặc biệt, phải xem lại vai trò của quỹ bảo lãnh tín dụng. Cần cả hệ thống chính trị vào cuộc, hướng dòng vốn tín dụng đi đúng địa chỉ, đúng trọng tâm, trọng điểm. Nguồn lực có giới hạn, phải ưu tiên phát triển một cách có hiệu quả là điều đáng suy ngẫm.

Trân trọng cảm ơn ông!

Hà Thu (Thực hiện)