Nghề nuôi cá chình ở Việt Nam bắt đầu khoảng những năm 2000, tập trung ở một số tỉnh như Phú Yên, Bình Định, Tiền Giang, An Giang,.. Đặc biệt Phú Yên (nay thuộc tỉnh Đắk Lắk) được đánh giá là một trong những địa phương có sản lượng nuôi và cung ứng cá chình bông lớn nhất trên cả nước. Với lợi thế về điều kiện tự nhiên ở khu vực ven biển, giúp thuận lợi trong việc khai thác nguồn giống cá chình từ tự nhiên, tạo nền tảng cho phát triển nghề nuôi tại địa phương.
Hiện nay, mô hình nuôi cá chình bông thương phẩm đã được nhân rộng ra nhiều hộ gia đình ở các xã thuộc tỉnh Đắk Lắk. Với thời gian nuôi trung bình từ 18 tháng - 24 tháng, mỗi con cá chình bông có thể mang lại lợi nhuận khoảng 70.000 đến 80.000 đồng. Mô hình này đang góp phần tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân địa phương và được xem là một hướng phát triển kinh tế hiệu quả và có tính bền vững.
Cá chình bông Phú Yên bao gồm hai loại: cá chình bông loại 30-50 con/kg và cá chình bông thương phẩm loại trên 1kg/con.
Cá chình bông loại 30-50 con/kg có trạng thái cơ thịt là săn chắc đàn hồi sau khi nấu chín, hàm lượng sắt từ 2,9 - 5,6 mg/kg, hàm lượng protein tổng từ 14,90 - 17,80 g/100g.

Cá chình bông thương phẩm (trọng lượng trên 1kg/con) có trạng thái cơ thịt săn chắc đàn hồi, dai, giòn sau khi nấu chín, hàm lượng sắt từ 2,60 - 6,60 mg/kg, hàm lượng protein tổng từ 13,90 - 18,40 g/100g.

Các đặc tính, chất lượng đặc thù của sản phẩm cá chình bông Phú Yên có được là do các điều kiện địa lý đặc trưng của khu vực địa lý tương ứng quyết định.
Khu vực địa lý có nhiều vũng, vịnh và đầm phá nước lợ, tạo nên môi trường chuyển tiếp thuận lợi cho cá chình bột tự nhiên từ biển xâm nhập qua các cửa sông, sau đó di chuyển lên sinh sống tại sông, suối, ao, hồ.
Hệ thống sông, suối trong khu vực địa lý phân bố tương đối đồng đều, có chiều dài ngắn và độ dốc lớn nên dòng chảy có vận tốc tương đối cao, khả năng lưu thông nước tốt, hàm lượng oxy trong nước cao, tạo môi trường thủy sinh giàu sinh vật và động vật phù du, cung cấp nguồn thức ăn tự nhiên phong phú và môi trường sống phù hợp cho cá chình bông sinh trưởng và phát triển. Bên cạnh đó, nhờ dòng chảy thường xuyên và mạnh, cá chình bông Phú Yên phải vận động liên tục chống lại dòng nước. Quá trình vận động thường xuyên này thúc đẩy sự phát triển hệ cơ, giúp làm tăng độ săn chắc, dai và giòn của thịt cá. Trong mô hình nuôi ao đất, việc sử dụng quạt nước không chỉ có tác dụng bổ sung oxy, duy trì hàm lượng oxy hòa tan ổn định trong nước mà còn góp phần tạo dòng chảy liên tục trong ao nuôi, nhờ đó, cá chình bông được kích thích vận động thường xuyên, giúp hình thành các đặc thù chất lượng cá chình bông Phú Yên.
Cá chình bông nuôi tại Phú Yên được cho ăn thụ động hoàn toàn bằng cá biển tươi xay nhuyễn. Cá biển là nguồn thức ăn tự nhiên chứa hàm lượng sắt cao dưới dạng heme - dạng có sinh khả dụng cao và dễ hấp thu qua ruột cá. Việc sử dụng nguyên liệu cá biển nguyên con xay nhuyễn làm thức ăn góp phần cung cấp nguồn vi chất Sắt tự nhiên cho cá chình bông Phú Yên.
Ngoài nguồn thức ăn thụ động, cá chình bông tại Phú Yên còn hấp thụ các nhóm vi khuẩn lam dạng sợi (thường được gọi dân gian là tảo xoắn tự nhiên) có sẵn trong môi trường. Tảo xoắn là thức ăn cung cấp một lượng các protein, acid amin thiết yếu, vitamin và khoáng chất (trong đó có sắt) phong phú. Nguồn thức ăn tự nhiên và nguồn thức ăn thụ động trên đã góp phần tạo nên hàm lượng Sắt, hàm lượng Protein tổng trong thịt cá chình bông Phú Yên cao hơn.
Bên cạnh yếu tố thức ăn, kinh nghiệm nuôi cá chình bông lâu năm của người dân Phú Yên đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý khẩu phần ăn phù hợp với từng hình thức nuôi. Đối với hình thức nuôi ao đất, lượng thức ăn được kiểm soát chặt chẽ và thường thấp hơn so với hình thức nuôi lồng bè nhằm hạn chế tình trạng dư thừa thức ăn, tránh gây suy giảm chất lượng môi trường nước. Trong khi đó, đối với hình thức nuôi lồng bè, lượng thức ăn dư thừa được dòng chảy tự nhiên phân tán, ít gây tác động tiêu cực đến môi trường nuôi.
Nhờ quản lý tốt nguồn thức ăn và môi trường nuôi, cá chình bông tại Phú Yên có điều kiện sinh trưởng ổn định, góp phần hình thành nên đặc thù của sản phẩm.
Khu vực địa lý bao gồm: Xã Phú Mỡ, xã Xuân Lãnh, xã Xuân Phước, xã Đồng Xuân; Xã Tuy An Bắc, xã Tuy An Đông, xã Ô Loan, xã Tuy An Tây, xã Tuy An Nam; Xã Sơn Hòa, xã Vân Hòa, xã Tây Sơn, xã Suối Trai; Xã Phú Hòa 1, xã Phú Hòa 2; Xã Tây Hòa, xã Hòa Thịnh, xã Hòa Mỹ, xã Sơn Thành; Phường Đông Hòa, phường Hòa Hiệp, xã Hòa Xuân; Phường Phú Yên, phường Tuy Hòa, phường Bình Kiến thuộc tỉnh Đắk Lắk kể từ ngày 01/7/2025 theo bản đồ khu vực địa lý đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk phê duyệt.
PV























