(TH&CL) Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đang là vấn đề thời sự được các cấp, các  ngành và xã hội quan tâm. Tính đến nay, chúng ta đã có nhiều năm thực hiện chính sách cổ phần hóa, tuy nhiên số doanh nghiệp thực hiện tái cơ cấu chưa được bao nhiêu.

Ảnh minh họa

Nhiều điểm mới

Trong Thông điệp đầu năm 2014, Thủ tướng Chính phủ đã khẳng định phải kiên quyết thực hiện tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là cổ phần hóa, kể cả các tập đoàn kinh tế; thoái vốn đầu tư ngoài ngành và bán phần vốn Nhà nước không cần nắm giữ theo nguyên tắc thị trường. Tách bạch nhiệm vụ sản xuất kinh doanh với nhiệm vụ chính trị, công ích. Thực tế, sau khi cổ phần hóa thì các DN này có chuyển biến tích cực hơn và có đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế.

Theo TS. Cao Sỹ Kiêm, nguyên Thống đốc NHNN Việt Nam: Có 4 điểm rất quan trọng trong thông điệp cổ phần hóa lần này: Thứ nhất, địa chỉ rõ hơn, chỉ rõ các DN, cụ thể là có 432 DNNN phải tiến hành cổ phần hóa trong 2 năm 2014 và 2015. Thứ 2, các DN bị lỗ và kể cả các DN có lãi cũng sẽ phải kiểm tra để phát triển tốt hơn. Thứ 3, vấn đề tốc độ, thời gian qua việc thực hiện cổ phần hóa bị tắc ở vấn đề tốc độ. Các DN không muốn làm nên họ đưa ra nhiều lý do để trì trệ, kéo dài. Bây giờ chúng ta phải đánh vào đúng điểm cần giải quyết là các DN đã đủ tiêu chuẩn rồi mà vẫn chầy ì không thực hiện cổ phần hóa, tái cơ cấu thì phải thay cán bộ. Thứ 4 là giao trách nhiệm cho nhiều bộ ngành, nhiều lĩnh vực cùng tham gia vào kiểm tra, giám sát cổ phần hóa DNNN.

“Tôi chắc rằng nếu thực hiện được 4 điểm mới này thì tốc độ sẽ được đẩy nhanh hơn. Và với mục tiêu đề ra 432 DN trong năm 2014 và 2015 là có thể thực hiện được. Kể cả môi trường pháp lý lẫn nội dung điều hành”, TS. Kiêm nhận định.

Công khai, minh bạch chính sách

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, trong 3 năm (2011 - 2013), tốc độ cổ phần hóa thấp nên số DN cổ phần hóa còn lại trong 2 năm 2014 - 2015 là 432 DN, như vậy bình quân mỗi năm là 216 DN.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này nhưng theo TS. Cao Sỹ Kiêm, nguyên nhân quan trọng nhất là do người trực tiếp làm, thêm nữa là do có những vấn đề chưa rõ ràng, đặc biệt là sự tập trung chỉ đạo chưa kiên quyết và có sự thọc gậy bánh xe của những nhóm lợi ích.

Nói rộng hơn, có thể tóm lược những trở lực của quá trình cổ phần hóa và tái cơ cấu DNNN trong mấy từ: “Không vì lợi ích chung”. Nói khác đi, việc đẩy mạnh cổ phần hóa sẽ đụng chạm đến lợi ích của một nhóm thiểu số, nhưng có lợi cho nền kinh tế, cho đất nước nói chung.

Mặt khác, việc cổ phần hóa phải đảm bảo yêu cầu không thất thoát tài sản Nhà nước. Nhưng cũng không thể vin vào lý do “bảo toàn vốn Nhà nước” để chậm trễ cổ phần hóa, càng không thể lơi lỏng kiểm soát để thất thoát của công.

Ý nghĩa của cổ phần hóa không chỉ là “lối thoát duy nhất” cho những vấn đề của DNNN, cổ phần hóa DNNN được Chính phủ đặt trong một tổng thể hàng loạt những giải pháp nhằm tạo đột phá về thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển bền vững. Tức là, Nhà nước làm tốt chức năng kiến tạo phát triển, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng theo cơ chế thị trường; kiểm soát chặt chẽ và xóa bỏ độc quyền DN cũng như những cơ chế chính sách dẫn đến bất bình đẳng trong cạnh tranh; DNNN chỉ tập trung vào lĩnh vực then chốt, thiết yếu, địa bàn quan trọng và quốc phòng an ninh …

Theo TS. Kiêm, Chính phủ cần có những giải pháp đột phá để thúc đẩy việc tái cơ cấu  DNNH nhanh mà có hiệu quả. Để làm được điều đó, cái quan trọng nhất là chính sách phải rõ ràng, phải công khai minh bạch, để người làm cũng như người kiểm tra, người quản lý thực hiện tốt hơn, căn cứ vào đó để đánh giá nhận xét, giám sát và thúc đẩy sự phát triển.“Cổ phần hóa là con đường phải làm, chỉ cần quyết tâm và trách nhiệm”, ông Kiêm thẳng thắn.

Hoan Nguyễn