THCL Theo báo cáo mới nhất của Bộ Y tế, trung bình mỗi năm Việt Nam (VN) có khoảng 150.000 người mắc bệnh ung thư mới, trong đó, có 75.000 người tử vong, con số này có xu hướng tăng nhanh mỗi năm. Đây là một thực trạng đáng báo động mà nguyên nhân chủ yếu là do chúng ta đang sử dụng lương thực, thực phẩm bẩn. Có nhiều giải pháp được đưa ra trong thời gian qua nhưng theo nhận định của các chuyên gia thực phẩm thì giải pháp hữu hiệu nhất để đánh bật thực phẩm bẩn chính là các DN, các nhà sản xuất thực phẩm sạch phải biết đoàn kết, kết nối mạnh mẽ với nhau.

Tình trạng hóa chất, phụ gia bày bán tràn lan là nguyên nhân chính khó lòng ngăn chặn thực phẩm bẩn.

Cái khó bó cái khôn

Do VN là xứ nóng ẩm, nông sản, thực phẩm dễ bị nấm mốc nên việc bảo quản khá phức tạp. Vì thế, tình trạng sử dụng hóa chất, phụ gia trong sản xuất, chế biến và bảo quản nông sản, thực phẩm diễn ra phổ biến.

Chỉ nói riêng về lĩnh vực lúa gạo cũng đủ thấy độ phức tạp trong việc phân biệt đâu là gạo sạch, đâu là gạo bẩn. Chia sẻ về điều này, anh Nguyễn Hoàng Cung, Giám đốc Cty Đại Thuận Thiên cho biết: “Ở VN hiện nay có nhiều nguồn gạo sạch, gạo an toàn nhưng chúng ta lại rất khó phân biệt nên DN sản xuất gạo an toàn gặp nhiều khó khăn trong khâu phân phối”.

Bằng chứng mà a Cung đưa ra là, hiện nay ở các tỉnh ĐB SCL, một số DN đang triển khai những mô hình trồng lúa chuyên canh như: lúa- tôm, lúa- vịt, lúa- cá… để giảm lượng thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật cũng như hóa chất trong chế biến bảo quản. Ai cũng nói gạo của DN tôi là gạo sạch, gạo chất lượng nhưng thực chất chúng ta đang hiểu theo cách cào bằng dễ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng. Cần phải phân loại chất lượng gạo theo các nhóm thì mới có những tiêu chuẩn để đánh giá, giúp người dân định hình và hiểu về chất lượng gạo. VN đã có một thương hiệu gạo hữu cơ số 1 Đông Nam Á, đã được chứng nhận của quốc tế về gạo hữu cơ nhưng chính vì DN này chưa công bố từng nhóm gạo về độ sạch, độ an toàn để người tiêu dùng có thể phân định nên không có thương hiệu trên thương trường, bản thân DN đó gặp rất nhiều khó khăn trong phân phối.

Đồng quan điểm này, TS. Đỗ Việt Hà, Phó trưởng Ban quản lý Khu nông nghiệp công nghệ cao TP HCM cho rằng: “Khó khăn trong công tác quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) hiện nay là nhiều loại hóa chất nhập không có giấy phép. Người dân thường dùng các loại phụ gia, hóa chất để nhuộm thực phẩm. Trong bảng các loại hóa chất phụ gia cho phép sử dụng trong bảo quản chế biến thực phẩm của Bộ Y tế là hơn 5.000 loại. Chưa kể có thêm khoảng gần 2.000 loại na ná phụ gia cho phép, nâng tổng số lên 7.000 loại phụ gia. Trong quá trình chế biến thực phẩm không thể nào không có các phụ gia, tuy nhiên, một thực phẩm gọi là sạch thì phải sử dụng hạn chế nhất các loại phụ gia trong chế biến. Chúng tôi đã từng thiết kế, xây dựng cho các DN khoảng 10 nhà máy chế biến thực phẩm, trong quá trình làm mới thấy rằng hầu hết các loại thực phẩm khi chế biến đều sử dụng các phụ gia. Đặc biệt là với các sản phẩm nước uống đóng chai, chất bảo quản được dùng rất nhiều”.

Lý giải vì sao phụ gia, hóa chất được sử dụng thường xuyên trong chế biến thực phẩm, TS Hà cho biết: Thứ nhất, hiện nay, số lượng phụ gia bày bán chung với hóa chất diễn ra tràn lan, chỉ cần tới một góc chợ Kim Biên, Quận 5 sẽ thấy. Đây là một thực trạng khá nhức nhối mà các ngành chức năng nói hoài nhưng chưa thể ngắn chặn dứt điểm. Việc người bán tràn lan dễ dẫn tới hiểu nhầm cho người mua. Ví dụ, cũng là thạch cao nhưng thạch cao dùng để trang trí nhà cửa khác với thạch cao dùng tạo độ đông trong sữa đậu nành. Cho dù, giống nhau cùng là chất hóa học nhưng các tạp chất trong đó rất khác nhau và mức độ độc hại cũng khác nhau.

Thứ hai, một lượng lớn hóa chất đang bị lạm dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm khiến cho việc kiểm tra rất khó, kể cả khi chúng ta kiểm nghiệm bằng máy móc. Nhiều loại phụ gia, hóa chất dùng trong thực phẩm máy móc không thể phát hiện được. Vì thế, chúng ta đang đoán bệnh bắt nguyên nhân như việc dự đoán bệnh nhân bị bệnh gì thì phỏng đoán họ ăn loại thực phẩm đó, nhiễm độc chất đó? Thậm chí, nhiều vụ ngộ độc thực phẩm không thể xác định được nguyên nhân.

Thứ ba, với nhiều nước, quy định ATVSTP rất khắt khe nhưng với VN thì quy định còn mang tính chất nửa vời, dẫn tới khó khăn trong việc xử phạt. Từ đó, mới có chuyện người dân biết rằng những loại hóa chất, phụ gia không tốt cho sức khỏe con người, không được dùng trong chế biến thực phẩm nhưng họ vẫn bán công khai, vẫn dùng thường xuyên.

“Trong khi đó, hoạt động kiểm nghiệm ATVSTP đang vướng mắc nhiều thứ.  Nói riêng với Khu nông nghiệp công nghệ cao TP HCM, để kiểm tra được chất lương thực phẩm, chúng tôi phải đầu tư mua 2 chiếc máy kiểm nghiệm trị giá 19 tỷ đồng và mỗi năm phải “nuôi” nó hết 3 tỷ đồng. Kinh phí không có, khu phải xin nguồn kinh phí từ Bộ tài chính. Đặc biệt, vấn đề kiểm tra của chúng tôi mới diễn ra theo kiểu phát hiện ở đâu có sự cố thì kiểm tra nơi đó chứ chưa đủ chức năng để kiểm tra theo kiểu dự phòng. Tức là kiểm tra từ xa, kiểm tra trước để cảnh báo DN. Về nguồn nhân lực chất lượng cao cho công tác kiểm tra đã có nhưng còn rất mỏng”, ông Hà phân trần.

Cần sự kết nối

Theo PGS.TS Mai Thanh Phong, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Bách Khoa TP HCM, việc kết nối các đơn vị sản xuất thực phẩm sạch là một việc phải làm ngay từ bây giờ. Bởi hiện nay, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, người dân dường như mất niềm tin với thực phẩm khi thực phẩm bẩn đang len lỏi vào từng gia đình.

Cũng theo ông Phong: “Sự mất niềm tin này vô hình chung có thể giết chết ngành công nghiệp sản xuất nông sản của VN. Việc tạo ra cộng đồng sản xuất nông sản sạch cũng là cách giúp nhân dân có kiến thức về thực phẩm sạch và lan tỏa được cộng đồng sử dụng thực phẩm sạch”.

Nhìn nhận ở góc độ khác, Th.s Vũ Tuấn Anh, Giảng viên chuyên ngành thực phẩm Trường ĐH Công nghiệp TP HCM nhấn mạnh: Hiện nhiều DN đã và đang thực hiện kinh doanh nông sản sạch, song còn ở phương thức sản xuất nhỏ lẻ. Các đơn vị sản xuất thực phẩm sạch đang đối mặt với những khó khăn nhất định như chi phí cao, bán kính phục vụ nhỏ, chưa tạo dựng được thương hiệu. Để cung cấp sản phẩm cho người tiêu dùng, cần thiết lập một hệ thống công nghệ nhằm kết nối các nhà sản xuất và phân phối thực phẩm sạch với nhau. Sau đó, người tiêu dùng chính là đối tượng đánh giá người sản xuất, phân phối. Hệ thống này sẽ hiển thị bản đồ nhà sản xuất và nhà phân phối thực phẩm sạch. Tùy theo nhu cầu sử dụng của khách hàng mà người phân phối liên lạc với các đơn vị sản xuất đặt hàng.

Với phân tích của Ths. Tuấn Anh thì, khi đó, người phân phối trong phạm vi phụ trách của mình có thể kết nối với nhiều đơn vị sản xuất. Sau khi nhận được sản phẩm từ người phân phối, khách hàng sử dụng có thể chấm điểm người sản xuất và người phân phối. “Ưu điểm của hệ thống này là có thể công khai mọi thông tin về sản phẩm cũng như cũng như thời gian và số lượng sản phẩm sản xuất ra. Thông tin về đơn vị phân phối cũng được công khai. Vì thế, người tiêu dùng có quyền được đánh giá chất lượng sản phẩm hệ thống này bằng việc chấm điểm. Sau đó, bất cứ một mắt xích nào trong hệ thống không được người tiêu dùng tin tưởng sẽ tự động bị đào thải”, vị này nói.

Ý tưởng này được xây dựng nhằm mục đích kết nối các cơ sở và cá nhân sử dụng thực phẩm sạch. Từ đó, tạo dựng một cộng đồng thực phẩm sạch đủ sức “đánh bật” thực phẩm bẩn đang trở thành vấn nạn trên thị trường hiện nay.

Để lan tỏa được cộng đồng sản xuất và sử dụng sản phẩm sạch, Th.s Vũ Tuấn Anh nêu giải pháp: Mỗi người tiêu dùng hãy bỏ ngay tư duy “sử dụng sản phẩm sạch theo giá của thực phẩm bẩn”. Mỗi người dân hãy nhận thức được đúng giá trị của thực phẩm sạch và hãy làm một việc tử tế là rút hầu bao để chia sẻ với những người sản xuất thực phẩm sạch. Sự chia sẻ đó chính là động lực để những người sản xuất thực phẩm sạch có thêm nhiệt tâm để tiếp tục phục vụ người tiêu dùng bằng những sản phẩm tốt nhất.

Hoàng Phương