Toàn cảnh tọa đàm “Truy xuất nguồn gốc – Lá chắn bảo vệ doanh nghiệp và người tiêu dùng”, tổ chức ngày 9/9/2026 tại TP.HCM. Ảnh: Trang TTĐT Bộ CT
Toàn cảnh tọa đàm “Truy xuất nguồn gốc – Lá chắn bảo vệ doanh nghiệp và người tiêu dùng”, tổ chức ngày 9/9/2026 tại TP.HCM (Ảnh: Trang TTĐT Bộ Công Thương)

Một thị trường minh bạch cần tạo được dấu vết từ chủ thể chịu trách nhiệm đưa sản phẩm ra thị trường, hồ sơ công bố, nguồn nhập khẩu, quá trình lưu thông đến khâu bán hàng và hậu kiểm chất lượng.

Công bố sản phẩm không thay thế hậu kiểm

Đường đi hợp pháp của một sản phẩm mỹ phẩm không bắt đầu từ quầy hàng hay một phiên livestream.

Theo quy định quản lý mỹ phẩm, tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm đưa sản phẩm ra thị trường phải thực hiện thủ tục công bố sản phẩm và chịu trách nhiệm về tính an toàn, hiệu quả, chất lượng của sản phẩm.

Điều cần phân biệt là số tiếp nhận Phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm không nên được hiểu như một “tem bảo đảm chất lượng” của cơ quan quản lý nhà nước. Trách nhiệm đối với sản phẩm trước hết vẫn thuộc về tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm đưa sản phẩm ra thị trường.

Và công bố không phải điểm kết thúc của quản lý.

Một trường hợp bị Cục Quản lý Dược xử lý trong năm 2026 cho thấy khá rõ cơ chế hậu kiểm này.

Lô Kem nghệ Kingphar, hộp một tuýp 20g, trên nhãn ghi số tiếp nhận Phiếu công bố 10/24/CBMP-HY, số lô 020524, được Trung tâm Kiểm nghiệm thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm thuộc Sở Y tế tỉnh Gia Lai lấy mẫu tại một nhà thuốc để kiểm tra chất lượng.

Kết quả kiểm nghiệm xác định mẫu thử không đạt tiêu chuẩn chất lượng về giới hạn vi sinh vật trong mỹ phẩm. Trên cơ sở đó, Cục Quản lý Dược thông báo đình chỉ lưu hành, thu hồi trên toàn quốc lô sản phẩm.

Chi tiết đáng chú ý là sản phẩm có số tiếp nhận Phiếu công bố được ghi ngay trên nhãn nhưng vẫn bị lấy mẫu kiểm tra và thu hồi khi không đạt tiêu chuẩn chất lượng.

Điều đó cho thấy cần phân biệt hai lớp kiểm soát: Việc sản phẩm có hồ sơ để được đưa ra thị trường là một lớp; chất lượng thực tế của sản phẩm trong quá trình lưu thông là một lớp khác.

Hậu kiểm chính là mắt xích để phát hiện khoảng cách nếu có giữa hồ sơ và sản phẩm thực tế.

Khi phát hiện vi phạm, khả năng truy được chủ thể chịu trách nhiệm, lô sản xuất, cơ sở sản xuất và đường đi của hàng hóa sẽ quyết định hiệu quả của việc thu hồi.

Một sản phẩm càng để lại đầy đủ dấu vết, trách nhiệm càng có khả năng được truy đúng địa chỉ.

Lượng lượng chức năng tiến hành kiểm tra.
Lượng lượng chức năng tiến hành kiểm tra hàng hóa

Khi điểm bán nằm trong chiếc điện thoại

Thách thức phức tạp hơn khi điểm bán không còn là một địa chỉ cố định.

Mỹ phẩm, nước hoa được giới thiệu và bán trên website, sàn thương mại điện tử, mạng xã hội hoặc qua livestream. Chỉ với một tài khoản, người bán có thể tiếp cận lượng lớn khách hàng mà không cần quầy hàng theo nghĩa truyền thống.

Sự thuận tiện đó đồng thời đặt ra yêu cầu phải xác định được người bán và truy được hàng hóa.

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 và Nghị định số 248/2026/NĐ-CP cùng có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Khung pháp lý mới mở rộng quản lý đối với các mô hình kinh doanh trên môi trường số, đồng thời làm rõ hơn trách nhiệm của các chủ thể tham gia thương mại điện tử.

Một điểm đáng chú ý là yêu cầu xác thực điện tử danh tính người bán và người tham gia livestream bán hàng trên nền tảng thương mại điện tử trung gian. Theo lộ trình, việc xác thực bắt buộc được thực hiện từ ngày 1/1/2027.

Đối với mỹ phẩm, nước hoa, khả năng xác định được chủ thể đứng sau gian hàng đặc biệt có ý nghĩa. Khi xảy ra vi phạm, việc truy xuất không thể dừng ở một tài khoản, một phiên livestream hay một gian hàng có thể bị đóng bất cứ lúc nào.

Một tài khoản có thể giới thiệu sản phẩm là “auth”, “xách tay”, “tester” hay “duty free”. Nhưng các cách gọi thương mại đó không thể thay thế căn cứ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ và trách nhiệm đối với hàng hóa.

Khi phát sinh vi phạm, việc gỡ một sản phẩm hay đóng một gian hàng chưa giải quyết được phần cốt lõi.

Cần trả lời được: Ai bán? Ai chịu trách nhiệm đưa sản phẩm ra thị trường? Hàng hóa đến từ đâu? Và khi chất lượng có vấn đề, ai phải chịu trách nhiệm?

Nếu những câu hỏi đó không thể trả lời, đường truy xuất có nguy cơ kết thúc ngay tại màn hình điện thoại.

Đoàn kiểm tra Đội Quản lý thị trường số 4 kiểm tra cơ sở kinh doanh có mỹ phẩm được đăng bán trên mạng xã hội tại Cà Mau. Ảnh: Chi Cục QLTT tỉnh Cà Mau
Đoàn kiểm tra Đội Quản lý thị trường số 4 kiểm tra cơ sở kinh doanh có mỹ phẩm được đăng bán trên mạng xã hội tại Cà Mau (Ảnh: Chi Cục QLTT tỉnh Cà Mau)

Người mua cần biết hỏi gì trước khi trả tiền

Người mua không cần trở thành chuyên gia phân biệt mỹ phẩm thật – giả. Nhưng trước khi trả tiền, họ hoàn toàn có thể yêu cầu người bán trả lời một số câu hỏi cơ bản.

Ai là tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm đưa sản phẩm ra thị trường Việt Nam? Đây không phải thông tin phụ. Theo quy định quản lý mỹ phẩm, đó là chủ thể đứng tên trên hồ sơ công bố và chịu trách nhiệm về sản phẩm trên thị trường.

Sản phẩm đã được công bố chưa, số tiếp nhận Phiếu công bố là gì? Nếu người bán đưa ra một số công bố, người mua cũng cần hiểu đúng giá trị của nó. Số tiếp nhận xác nhận sản phẩm đã được khai báo với cơ quan quản lý, nhưng không phải là sự chứng nhận tuyệt đối về an toàn, hiệu quả và chất lượng của sản phẩm.

Với mỹ phẩm nhập khẩu, căn cứ nào chứng minh nguồn hàng? Những lời giới thiệu như “auth”, “xách tay”, “tester”, “duty free” tự thân không trả lời được câu hỏi hàng hóa đã đi vào thị trường bằng con đường nào.

Nhãn sản phẩm cho biết gì về xuất xứ và chủ thể chịu trách nhiệm? Nếu thông tin trên hàng hóa và lời giới thiệu của người bán không khớp nhau, đó là lý do để người mua yêu cầu giải thích trước khi quyết định.

Nếu sản phẩm có vấn đề, ai tiếp nhận khiếu nại và chịu trách nhiệm? Một người bán chỉ khẳng định “hàng chuẩn” nhưng không xác định được chủ thể chịu trách nhiệm, nguồn hàng hoặc cách giải quyết khi sản phẩm có vấn đề thì người mua cần cân nhắc thêm.

Không phải câu hỏi nào người bán cũng phải xuất trình ngay toàn bộ hồ sơ nội bộ cho khách hàng. Nhưng nếu những thông tin cơ bản về chủ thể chịu trách nhiệm, nguồn gốc và tình trạng pháp lý của sản phẩm cũng không thể giải thích hoặc đối chiếu, người mua đã có thêm căn cứ để thận trọng.

Những kinh nghiệm như quan sát bao bì, màu sắc, mùi hương, mã vạch hay quét mã QR có thể cung cấp thông tin tham khảo, nhưng không thể thay thế hồ sơ và dữ liệu có khả năng kiểm chứng.

Một mã QR chỉ hữu ích khi thông tin mà nó dẫn tới có nguồn xác thực. Điều cần thiết không phải tạo thêm những “mẹo nhận biết hàng thật”, mà là làm cho đường đi và trách nhiệm đối với hàng hóa ngày càng khó bị che khuất.

Quy định hiện hành đặt trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân đưa mỹ phẩm ra thị trường trong việc theo dõi, phát hiện và thu hồi sản phẩm không đạt tiêu chuẩn chất lượng, thực hiện yêu cầu thu hồi của cơ quan quản lý và giải quyết khiếu nại liên quan đến chất lượng sản phẩm.

Như vậy, một chuỗi trách nhiệm có thể hình dung khá rõ: Sản phẩm phải gắn với chủ thể chịu trách nhiệm; chủ thể phải gắn với hồ sơ; hàng hóa lưu thông vẫn chịu hậu kiểm; khi phát hiện vi phạm phải có khả năng truy tìm và thu hồi.

Đích đến không nên chỉ được đo bằng số chai nước hoa hay hộp mỹ phẩm bị thu giữ.

Một thị trường minh bạch cần bảo đảm mỗi sản phẩm có dấu vết đủ để kiểm chứng; người bán có thể được xác định; chủ thể đưa sản phẩm ra thị trường gắn với trách nhiệm; sản phẩm không đạt chất lượng có thể được truy tìm và thu hồi.

Khi những mắt xích ấy nối được với nhau, người tiêu dùng không còn phải đứng trước một chai nước hoa hay hộp mỹ phẩm và tự đoán liệu mình có đang mua đúng thứ được quảng cáo hay không.

Họ có căn cứ để kiểm chứng trước khi bỏ tiền.

 Hoàng Hữu Quyết - Đình Lương