Theo Bộ Tài chính, sau thời gian triển khai, nhiều quy định hiện hành về tiêu chí xét hỗ trợ và quy trình thực hiện được đánh giá còn tương đối phức tạp, chưa phù hợp với điều kiện thực tế của nhiều hợp tác xã, đặc biệt là các đơn vị quy mô nhỏ hoặc năng lực quản trị còn hạn chế.

Qua tổng hợp ý kiến từ các địa phương, nhiều kiến nghị đề xuất sửa đổi theo hướng tinh gọn hồ sơ, giảm yêu cầu thủ tục và tăng tính khả thi trong quá trình triển khai chính sách hỗ trợ. Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính đề xuất điều chỉnh các quy định nhằm mở rộng khả năng tiếp cận chính sách cho khu vực kinh tế hợp tác.

Đề xuất đơn giản hóa thủ tục hỗ trợ nhằm tạo điều kiện cho hợp tác xã tiếp cận chính sách thuận lợi hơn
Đề xuất đơn giản hóa thủ tục hỗ trợ nhằm tạo điều kiện cho hợp tác xã tiếp cận chính sách thuận lợi hơn

Theo dự thảo sửa đổi khoản 1 Điều 6 của Nghị định 113/2024/NĐ-CP, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã sẽ được xem xét hỗ trợ khi đáp ứng tiêu chí theo quy định của Luật Hợp tác xã, đồng thời chỉ cần đáp ứng một trong nhiều điều kiện bổ sung thay vì phải đáp ứng đồng thời nhiều tiêu chí như trước.

Các tiêu chí được đề xuất bao gồm: số lượng thành viên tăng trong hai năm liền kề; tỷ lệ giao dịch nội bộ tăng; mức trích lập quỹ chung không chia cao hơn mức tối thiểu theo quy định; giá trị tài sản chung không chia tăng; có thành viên hoặc người lao động tham gia các khóa đào tạo, tập huấn được xác nhận; hoặc hợp tác xã mới thành lập tại địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn trong thời gian không quá 36 tháng.

Theo Bộ Tài chính, việc mở rộng các điều kiện này nhằm tạo cơ chế linh hoạt hơn cho hợp tác xã, đồng thời khuyến khích các đơn vị chú trọng nâng cao năng lực quản trị, đào tạo nguồn nhân lực và mở rộng quy mô hoạt động.

Đáng chú ý, đối với các khoản hỗ trợ từ ngân sách nhà nước có giá trị từ 3 tỷ đồng trở lên cho một dự án hoặc tổng các dự án trong cùng năm tài chính, dự thảo yêu cầu hợp tác xã phải có báo cáo tài chính năm liền kề được kiểm toán độc lập. Quy định này nhằm tăng tính minh bạch và kiểm soát hiệu quả sử dụng nguồn vốn hỗ trợ.

Ngoài sửa đổi tiêu chí đối với hợp tác xã, Bộ Tài chính cũng đề xuất bãi bỏ quy định riêng về tiêu chí hỗ trợ đối với tổ hợp tác trong Nghị định 113/2024/NĐ-CP. Nguyên nhân là cơ quan này đang xây dựng một nghị định riêng về tổ hợp tác, trong đó sẽ quy định cụ thể các điều kiện và cơ chế thụ hưởng chính sách hỗ trợ từ Nhà nước.

Theo định hướng mới, các tổ hợp tác đáp ứng đủ điều kiện theo nghị định riêng sẽ được tiếp cận các chính sách hỗ trợ tương tự như hợp tác xã theo quy định pháp luật.

Nhiều ý kiến cho rằng việc sửa đổi theo hướng thông thoáng hơn sẽ góp phần tháo gỡ rào cản cho khu vực kinh tế hợp tác, nhất là trong bối cảnh nhiều hợp tác xã vẫn gặp khó khăn về vốn, năng lực quản trị và khả năng tiếp cận chính sách hỗ trợ. Đồng thời, việc đơn giản hóa thủ tục cũng được kỳ vọng giúp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách và thúc đẩy phát triển kinh tế tập thể trong giai đoạn tới.

Quy trình hỗ trợ

Quy trình hỗ trợ hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hiện đang được quy định tại Điều 17 Nghị định số 113/2024/NĐ-CP. Tại dự thảo, Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung khoản 1,2,3,4,5 và 6 Điều 17 như sau:

1. Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã gửi 01 bộ hồ sơ đăng ký nhu cầu hỗ trợ đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đặt trụ sở chính.

2. Hồ sơ đăng ký nhu cầu hỗ trợ bao gồm:

a) Đơn đăng ký nhu cầu hỗ trợ trong đó có nội dung cam kết không vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của Luật Hợp tác xã, không trong thời gian chấp hành bản án hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo Mẫu số 01 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này;

b) Tài liệu, hồ sơ liên quan thể hiện sự phù hợp các tiêu chí thụ hưởng. Tài liệu, hồ sơ liên quan này là bản sao;

c) Đối với hỗ trợ về đầu tư kết cấu hạ tầng, trang thiết bị, chuyển giao công trình kết cấu hạ tầng, công trình công cộng và cơ sở hạ tầng khác của Nhà nước cho hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã cần có Nghị quyết của Hội đồng quản trị đối với trường hợp hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tổ chức theo tổ chức quản trị đầy đủ hoặc Nghị quyết của Đại hội thành viên đối với trường hợp hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tổ chức theo tổ chức quản trị rút gọn.

3. Nộp hồ sơ:

a) Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính hoặc qua môi trường điện tử;

b) Trường hợp hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp hồ sơ qua môi trường điện tử, việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính thực hiện theo quy định của pháp luật về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.

4. Ủy ban nhân dân cấp xã:

a) Chậm nhất sau 07 ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ, Ủy ban nhân dân cấp xã thông báo cho hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã về việc tiếp nhận hồ sơ theo Mẫu số 02 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này;

b) Trước ngày 31 tháng 5 hằng năm, Ủy ban nhân dân cấp xã tổng hợp nhu cầu của các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trên địa bàn, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét hỗ trợ.

Ủy ban nhân dân cấp xã cung cấp cho các cơ quan, đơn vị có khả năng, thẩm quyền hỗ trợ khi có yêu cầu;

c) Trường hợp cấp xã có khả năng và nguồn lực hỗ trợ, Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, thực hiện trực tiếp việc hỗ trợ cho hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo thẩm quyền."

5. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh:

a) Tổng hợp nhu cầu hỗ trợ cho các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã từ Ủy ban nhân dân cấp xã;

b) Cung cấp cho các cơ quan, đơn vị có khả năng, thẩm quyền hỗ trợ khi có yêu cầu hoặc trước ngày 30 tháng 6 hằng năm báo cáo bộ, cơ quan trung ương quản lý ngành, lĩnh vực xem xét hỗ trợ;

c) Trường hợp có khả năng và nguồn lực, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, thực hiện trực tiếp việc hỗ trợ cho các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo thẩm quyền.

6. Trường hợp hỗ trợ dịch vụ, tư vấn có giá trị không quá 20 triệu đồng, bồi dưỡng trong nước dưới 05 ngày:

a) Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp hồ sơ trực tiếp cho đơn vị cung cấp dịch vụ, tư vấn.

b) Đơn vị cung cấp dịch vụ, tư vấn chịu trách nhiệm rà soát tính hợp lệ của hồ sơ.

Nam Sơn