(TH&CL) “Những ngành nào sụp đổ nhanh nhất khi kinh tế khủng hoảng, sẽ là những ngành phục hồi nhanh nhất khi kinh tế hồi phục”. Đó là nhận định của ông Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh doanh tại Hội thảo “Kinh tế Việt Nam - Vấn đề và giải pháp cho DN”, được tổ chức mới đây.

Xuất khẩu thúc đẩy sản xuất
Sản xuất công nghiệp năm 2013 đã có dấu hiệu phục hồi, nhất là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đã tăng 7,4%, cao hơn nhiều so với mức tăng 5,5% của năm 2012. Ngành công nghiệp chủ lực này chiếm tỷ trọng 71% giá trị tăng thêm toàn ngành, đã có sự chuyển biến rõ nét qua các quý (quý I tăng 5,3%; quý II tăng 6,9%; quý III tăng 7,8% và quý IV tăng 10,1%), trở thành động lực chính giúp cải thiện tình hình sản xuất năm 2014. Ngoài ra, nhiều ngành khác cũng có mức tăng trưởng khá cao, như: Ngành sản xuất, phân phối điện tăng 8,5%; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 9,1%...
Bộ Công thương cho biết, tính tới thời điểm này, nhiều DN dệt may đã có đơn đặt hàng sản xuất đến hết quý I/2014, thậm chí một số DN lớn có đơn hàng sản xuất đến hết quý II cho sản phẩm hoàn tất.
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may trong tháng đầu tiên của năm 2014, theo số liệu của Tổng cục Hải quan là đạt hơn 1,9 tỷ USD, tăng 10,6% so với tháng trước và tăng 21,7% so với tháng 01/2013. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 1,13 tỷ USD, chiếm 59,4% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước. Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU) và Nhật Bản tiếp tục là 3 đối tác lớn nhất nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam với kim ngạch và tốc độ tăng so với cùng kỳ năm 2013 lần lượt là 955 triệu USD và 23,3%; 302 triệu USD và 26,4%; 228 triệu USD và 10,4%.
Tránh dàn trải nguồn lực
Nhóm ngành sụp đổ nhanh nhất khi kinh tế rơi vào khủng hoảng, phần lớn là công nghiệp chế biến và chế tạo (dệt may, giày da, đồ gỗ và các ngành tiêu dùng khác). Những ngành này đã bắt đầu phục hồi từ khoảng tháng 9/2013 với chỉ số PMI (chỉ số nhà quản trị mua hàng) đạt 13,5 %, chứng tỏ dấu hiệu phục hồi khá ổn. Vì vậy, các DN thuộc những ngành hàng này cần chú ý tiếp cận thị trường và tạo được ưu thế dài hạn, gắn kết với thực hiện các hiệp định TPP và hiệp định thương mại tự do.
Với bối cảnh trên, ông Lê Xuân Nghĩa cho rằng, các DN cần phải tỉnh táo lựa chọn lại phân khúc thích hợp với mình. Trong toàn bộ cấu trúc hiện tại, DN phải lựa chọn lại khu vực nào là chủ chốt tạo ra lợi nhuận, tạo ra tính cạnh tranh với đối thủ, tập trung nguồn lực để tái cấu trúc nó, tránh dàn trải nguồn lực theo kiểu… “sản xuất cả ti vi lẫn cám gà”. Ngành viễn thông đang tập trung cổ phần hóa và cũng là ngành nóng trên thị trường chuyển nhượng quốc tế. Bởi đây là ngành được các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là các nhà đầu tư lớn rất quan tâm,. Trong 3 năm khủng hoảng kinh tế vừa qua, ngành dịch vụ mặc dù xảy ra tình trạng ế ẩm, khách vắng vẻ ở các khu nghỉ dưỡng, khách sạn, nhà hàng... nhưng khi nền kinh tế ấm lên, ngành này sẽ phục hồi trở lại khá nhanh.
Ông Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương nhận định, trong 2 năm (2014 – 2015), có nhiều nhân tố để tin rằng kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi dần, niềm tin của thị trường được củng cố và DN có triển vọng để phát triển bền vững. Để tạo dựng lại lòng tin xã hội và thị trường, Việt Nam cần kiên trì, nhất quán với chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, cải cách thể chế và tái cấu trúc nền kinh tế một cách thực chất, nhằm đón bắt tốt hơn xu thế phát triển mới của thế giới và thời đại.
Hoan Nguyễn



















