THCL Tại Hà Nội, Dự án Thúc đẩy tăng trưởng thị trường - Path phối hợp với Cục Phòng, chống HIV/AIDS vừa tổ chức hội thảo công bố kết quả khảo sát người tiêu dùng và nghiên cứu thị trường về hàng hóa, dịch vụ dự phòng HIV tại Việt Nam.

Đến dự và chủ trì Hội thảo có TS Phan Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Phòng, chống HIV/AIDS, đại diện lãnh đạo USAID nhà tài trợ của Dự án, đại diện các Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS các tỉnh, TP triển khai nghiên cứu và các tổ chức, dự án tham gia các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS trên địa bàn Hà Nội.

Nghiên cứu được triển khai tại 6 tỉnh, thành phố là Điện Biên, Nghệ An, Hà Nội, Hải Phòng, Cần Thơ và TP Hồ Chí Minh với mục tiêu đo lường việc sử dụng và mua sắm các sản phẩm và dịch vụ HIV thương mại (bao cao su – BCS), chất bôi trơn - CBT, bơm kim tiêm dung tích chết thấp - LDSS, dịch vụ xét nghiệm HIV- HTS) trong nhóm nguy cơ cao (người tiêm chích ma túy - TCMT, phụ nữ mại dâm, nam tình dục đồng giới); Đo lường mức độ sẵn sàng chi trả cho các dịch vụ kể trên và tìm hiểm sở thích của người tiêu dùng liên quan đến BCS, CBT, LDSS và HTS. Thông tin được thu thập từ 1.248 phụ nữ mại dâm, 1.296 người nghiện chích ma túy và 1.528 nam tình dục đồng giới thu được những kết quả chính sau:

Các nhóm nguy cơ cao ưa thích BCS với các đặc điểm bôi trơn tốt, kích cỡ vừa, với địa điểm nhận dịch vụ là nhà thuốc vẫn được ưa chuộng nhất. Nhìn chung, nhóm TCMT thích những ưu điểm của LDSS, như sắc, tiếc kiệm thuốc và phòng lây truyền bệnh, riêng nhóm TCMT phía Bắc thích sử dụng BKT cỡ 3ml hơn.

Ngoài các tiêu chuẩn: bảo mật, riêng tư, vô danh và chính xác, nhóm nguy cơ cao còn mong muốn dịch vụ xét nghiệm HIV có kết quả nhanh và tiện lợi. Như vậy, xét nghiệm tại cộng đồng và tự xét nghiệm HIV sẽ là cách tiếp cận tốt nhất cho nhóm này.

Việc sử dụng công nghệ thông tin như điện thoại thông minh và mạng xã hội rất phổ biến trong nhóm nguy cơ cao, đặc biệt nhóm MSM. Điều này gợi ý một chiến lược truyền thông mới với tính chi phí – hiệu quả cao đối với nhóm nguy cơ cao.

Từ kết quả nghiên cứu trên, nhóm nghiên cứu đã đưa ra những khuyến nghị cho chương trình phòng, chống HIV/AIDS quốc gia giai đoạn tới như sau: Tiếp cận thị trường tổng thể để tận dụng lợi thế cạnh tranh và nguồn lực cả khu vực công và tư nhằm đảm bảo tính công bằng và tiếp cận bền vững với các sản phẩm và dịch vụ HIV; Phát triển thị trường BCS thương mại đáp ứng nhu cầu của các nhóm nguy cơ cao bằng các sản phẩm chất lượng và phù hợp với khả năng chi trả; Quảng bá việc sử dụng BKT LDSS và cung ứng sản phẩm thương mại với lựa chọn 1ml, 3ml, LDSS cho nhóm TCMT nhằm chuyển đổi từ BKT thông thường sang BKT LDSS để có tác động lớn hơn đến dịch HIV; Các chiến lược xét nghiệm mới bao gồm cả dịch vụ thu phí thông qua xét nghiệm không chuyên hoặc tự xét nghiệm để tăng phát hiện chẩn đoán HIV và giảm gánh nặng tài chính cho Chính phủ; Cung cấp dịch vụ HIV tư nhân dựa trên những sở thích và tính sẵn sàng chi trả dịch vụ của nhóm nguy cơ cao khu vực thành thị.

Tình hình dịch HIV/AIDS và các yếu tố nguy cơ Dịch HIV/AIDS đã xảy ra ở tất cả tỉnh, thành phố với 99,8% số quận/huyện và trên 80,3% số xã/phường. Một số khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có số người nhiễm HIV cao. Một số hành vi nguy cơ liên quan đến HIV/AIDS đang có những thay đổi theo hướng phức tạp và khó kiểm soát, can thiệp. Lây truyền HIV qua quan hệ tình dục đang có xu hướng gia tăng, cảnh báo sự lây lan của dịch trong cộng đồng dân cư, bao gồm cả những nhóm người được coi là có hành vi nguy cơ thấp. Gia tăng sử dụng ma túy tổng hợp trong các nguy cơ cao gồm gái mại dâm và người quan hệ tình dục đồng giới nam dẫn đến tăng nguy cơ lây nhiễm HIV trong các nhóm này và bạn tình của họ.

Linh Danh (Thương hiệu và Công luận)