Đối với sầu Thái: Duy trì mức cao.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (Tiền Giang, Cai Lậy, Đồng Tháp), giá sầu Thái loại A dao động mức 105.000 – 115.000 đồng/kg tùy chất lượng và tỷ lệ trái đạt chuẩn.
Sầu riêng Thái B dao động mức 85.000 – 95.000 đồng/kg, trong khi hàng loại C dao động mức 56.000 - 60.000 đồng/kg.
Thái xô lùa dao động mức 85.000 - 90.000 đồng/kg.

Đối với sầu riêng Ri6: Ổn định
Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thu mua loại A dao động mức 70.000 - 74.000 đồng/kg, loại B dao động mức 55.000 – 59.000 đồng, loại C dao động mức 40.000 đồng/kg.
Ri6 dạt dao động mức 35.000 đồng/kg.
Các loại sầu riêng khác: Ổn định
Sầu riêng Musang King loại A dao động mức 110.000 – 115.000 đồng/kg, loại B dao động mức 80.000 đồng/kg.
Sầu riêng Chuồng Bò loại A dao động mức 71.000 đồng/kg, loại B dao động mức 56000 đồng/kg.
Năm 2025, xuất khẩu rau quả đạt khoảng 8,6 tỷ USD, tăng gần 20% so với năm trước, trong đó sầu riêng tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt với kim ngạch xấp xỉ 4 tỷ USD, chiếm 40–45% tổng giá trị xuất khẩu rau quả. Bước sang năm 2026, sầu riêng vẫn được xác định là ngành hàng chiến lược, đóng góp lớn cho tăng trưởng xuất khẩu nông nghiệp.
Bên cạnh sự tăng trưởng là những rào cản kỹ thuật ngày càng khắt khe từ các thị trường nhập khẩu, đặc biệt về an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Thực tiễn cho thấy, không ít lô hàng sầu riêng gặp rủi ro do dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng hoặc thiếu thông tin truy xuất – những vấn đề mang tính hệ thống, không thể xử lý ở khâu cuối chuỗi.
Điều này buộc ngành hàng sầu riêng phải thay đổi cách tiếp cận: từ mở rộng nhanh diện tích sang kiểm soát chặt chất lượng; từ tăng trưởng ngắn hạn sang phát triển dài hạn và có trách nhiệm.
Lê Thanh(t/h)
























