
Giá thép thế giới
Khép lại phiên giao dịch ngày 13/7, giá thép thanh giao tháng 8/2026 trên Sàn Giao dịch Thượng Hải (SHFE) giảm 9 nhân dân tệ, tương đương 0,29%, xuống còn 3.049 nhân dân tệ/tấn. Trên Sàn Giao dịch Đại Liên (DCE), giá quặng sắt kỳ hạn tháng 8 mất 2 nhân dân tệ (0,27%), còn 750 nhân dân tệ/tấn. Trong khi đó, giá quặng sắt cùng kỳ hạn trên Sàn Giao dịch Singapore (SGX) giảm 0,93 USD, tương ứng 0,94%, xuống 98,35 USD/tấn.
Giá thép thanh kỳ hạn tại Trung Quốc tiếp tục giảm xuống dưới 3.060 nhân dân tệ/tấn, lùi về vùng thấp nhất trong nhiều tháng khi tình trạng thua lỗ tại các nhà máy thép ngày càng gia tăng. Theo Reuters, diễn biến này làm dấy lên kỳ vọng các doanh nghiệp sẽ tiếp tục cắt giảm sản lượng để cải thiện hiệu quả hoạt động.
Các nhà sản xuất thép cho biết biên lợi nhuận tiếp tục chịu áp lực khi giá than luyện cốc duy trì ở mức cao trong khi giá thép thành phẩm vẫn thấp. Bên cạnh đó, hoạt động bảo dưỡng định kỳ và kế hoạch cắt giảm sản lượng được dự báo sẽ khiến nguồn cung thép suy giảm trong ngắn hạn.
Ở chiều ngược lại, Trung Quốc vừa thành lập Guangyan International Investment Co. nhằm tăng cường đầu tư và kiểm soát nguồn tài nguyên khoáng sản ở nước ngoài, đồng thời hoàn thiện cơ chế giám sát các thương vụ kim loại quốc tế và nâng cao năng lực quản trị rủi ro của doanh nghiệp khai khoáng.
Trong khi đó, Baoshan Iron & Steel (Baosteel) - công ty thành viên của China Baowu Steel Group - đã nâng giá bán trong nước đối với các sản phẩm thép dẹt chủ lực giao tháng 8 thêm 50 nhân dân tệ/tấn (khoảng 7,4 USD/tấn). Theo giới phân tích, động thái này phản ánh kỳ vọng nhu cầu thép sẽ cải thiện trong thời gian tới, đồng thời chịu tác động từ chi phí nguyên liệu đầu vào, đặc biệt là than luyện cốc, gia tăng.
Dù vậy, nhu cầu đối với thép dẹt từ lĩnh vực chế biến vẫn ở mức thấp do ảnh hưởng của thời tiết, trong khi hoạt động mua hàng từ các ngành tiêu thụ thép chủ lực chưa có nhiều khởi sắc.
Giá thép xây dựng trong nước
Thị trường thép xây dựng trong nước tiếp tục ổn định. Hòa Phát giữ nguyên giá CB240 và D10 CB300 ở mức 15.120 đồng/kg. Thép Việt Ý miền Bắc niêm yết CB240 ở mức 14.850 đồng/kg, trong khi Thép Việt Đức miền Bắc báo giá CB240 và D10 CB300 cùng ở mức 14.750 đồng/kg.
Một số doanh nghiệp khác cũng duy trì mặt bằng giá không đổi. Thép VJS miền Bắc lần lượt niêm yết CB240 và D10 CB300 ở mức 14.850 đồng/kg và 14.750 đồng/kg, còn Thép Thái Nguyên báo giá CB240 14.990 đồng/kg và D10 CB300 14.890 đồng/kg.
Hà Trần (t/h)






















