
Diễn biến giá thép thế giới
Chốt phiên giao dịch ngày 3/3, giá thép thanh giao tháng 4/2026 trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải lùi 0,36%, tương đương giảm 11 nhân dân tệ, xuống còn 3.061 nhân dân tệ/tấn.
Trong khi đó, tại Sàn Giao dịch Hàng hóa Đại Liên, hợp đồng quặng sắt cùng kỳ hạn nhích 0,4% (tăng 3 nhân dân tệ) lên 758,5 nhân dân tệ/tấn.
Trên Sàn Giao dịch Singapore, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 4/2026 điều chỉnh giảm 0,25 USD, về mức 99,01 USD/tấn.
Giá quặng sắt giằng co vì căng thẳng tại Eo biển Hormuz và nhu cầu Trung Quốc suy yếu
Giá quặng sắt biến động trái chiều trong phiên giao dịch mới nhất khi thị trường đồng thời chịu tác động từ hai yếu tố đối lập: chi phí vận tải leo thang do căng thẳng tại Eo biển Hormuz và triển vọng tiêu thụ suy yếu tại Trung Quốc.
Theo Reuters, một quan chức cấp cao của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran cho biết eo biển này đã bị đóng cửa và Tehran sẽ nổ súng vào bất kỳ tàu nào tìm cách đi qua. Thông tin này khiến giá dầu và cước vận tải biển tăng vọt, làm dấy lên lo ngại về nguy cơ gián đoạn nguồn cung hàng hóa toàn cầu.
Trên Sàn Giao dịch Hàng hóa Đại Liên (DCE), hợp đồng quặng sắt được giao dịch nhiều nhất tăng 0,67%, chốt ở mức 753,5 nhân dân tệ/tấn (khoảng 109,32 USD/tấn). Ngược lại, hợp đồng quặng sắt chuẩn giao tháng 4 trên Sàn Giao dịch Singapore giảm 0,21%, còn 99,05 USD/tấn.
Ông Tomas Gutierrez, Trưởng bộ phận dữ liệu của Kallanish Commodities, nhận định chi phí vận tải gia tăng đang tác động lan rộng đến nhiều thị trường hàng hóa. Theo các nhà phân tích, việc cước phí tăng cao khiến chi phí nhập khẩu quặng sắt đội lên, qua đó hỗ trợ giá trong ngắn hạn.
Tuy nhiên, dư địa tăng của quặng sắt bị kìm hãm bởi triển vọng nhu cầu yếu. Sản lượng gang nóng – chỉ báo quan trọng phản ánh nhu cầu quặng – được dự báo giảm do các biện pháp hạn chế sản xuất tại Trung Quốc trong thời gian diễn ra kỳ họp Quốc hội thường niên từ ngày 5/3. Một số nhà máy thép phải cắt giảm công suất nhằm đảm bảo mục tiêu chất lượng không khí.
Ngoài ra, tồn kho quặng sắt tại các cảng Trung Quốc đang ở mức cao kỷ lục, tiếp tục gây áp lực lên giá.
Ở chiều ngược lại, nhóm nguyên liệu sản xuất thép khác ghi nhận mức tăng mạnh trong phiên chiều. Giá than luyện cốc và than cốc lần lượt tăng 4,01% và 3,42% theo đà đi lên của giá dầu và khí đốt.
Trong khi đó, phần lớn sản phẩm thép trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải suy yếu. Giá thép dây giảm 0,12%, thép cuộn cán nóng giảm 0,03%, thép không gỉ mất 0,39%, còn thép thanh nhích nhẹ 0,07%.
Giá thép xây dựng trong nước đi ngang
Ở thị trường nội địa, giá thép xây dựng cơ bản ổn định.
Tập đoàn Hòa Phát niêm yết thép D10 CB300 ở mức 14.260 đồng/kg, tương đương giá thép cuộn CB240.
Tại miền Bắc, Thép Việt Ý ghi nhận giá CB240 và D10 CB300 lần lượt 14.140 đồng/kg và 14.040 đồng/kg. Thép VAS tại miền Trung báo giá CB240 ở mức 13.940 đồng/kg và CB300 ở mức 13.640 đồng/kg.
Trong khi đó, Thép Việt Đức niêm yết CB240 ở mức 13.950 đồng/kg và CB300 ở 13.750 đồng/kg. Thép Kyoei Việt Nam báo giá CB240 13.940 đồng/kg và CB300 13.740 đồng/kg.
Hà Trần (t/h)






















