
Cập nhật giá thép thế giới
Kết thúc phiên giao dịch 28/5, giá thép thanh kỳ hạn tháng 6/2026 trên Sàn Thượng Hải giảm 0,52% (16 nhân dân tệ) xuống còn 3.057 nhân dân tệ/tấn. Trên Sàn Đại Liên, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 6/2026 giảm 0,56% (4,5 nhân dân tệ) xuống mức 796 nhân dân tệ/tấn. Trong khi đó, trên Sàn Singapore, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 6/2026 tăng nhẹ 0,15 USD lên 105,35 USD/tấn.
Trong một diễn biến khác, giá thép phế thế giới tăng tại phần lớn các thị trường trong tháng 5/2026, ngoại trừ Trung Quốc ghi nhận xu hướng giảm ở phân khúc nhập khẩu, theo GMK Center.
Cụ thể, giá thép phế toàn cầu tăng khoảng 1–3% trong tháng 5/2026 nhờ nhu cầu cải thiện và các yếu tố hỗ trợ từ logistics tại nhiều khu vực. Trong khi đó, Trung Quốc trở thành điểm trừ khi giá thép phế nhập khẩu giảm mạnh.
Tại Thổ Nhĩ Kỳ, giá thép phế tăng 1,4% trong giai đoạn từ 24/4 - 22/5, lên mức 408,5 USD/tấn CFR - cao nhất kể từ tháng 1/2024. Trong phần lớn thời gian tháng 5, nguồn cung thắt chặt khiến các nhà cung cấp duy trì mặt bằng giá cao, với lý do chi phí thu gom phế liệu tại châu Âu và chi phí logistics gia tăng.
Ở chiều ngược lại, các nhà máy thép nỗ lực kéo giảm giá thu mua dù đầu tháng thị trường vẫn được hỗ trợ bởi cước vận tải tăng và đồng euro mạnh hơn. Tuy nhiên, nhu cầu tiêu thụ thép thành phẩm yếu, đặc biệt ở phân khúc thép thanh, cùng chi phí vay vốn cao đã làm giảm thanh khoản, khiến nhiều nhà máy trì hoãn hoạt động mua hàng.
Đến cuối tháng, lợi thế dần nghiêng về phía người mua khi đồng euro suy yếu, giá phôi thép Trung Quốc giảm và chi phí vận chuyển hạ nhiệt. Một số nhà máy ưu tiên nguồn hàng nội địa hoặc các tuyến vận chuyển ngắn với mức giá cạnh tranh hơn so với hàng nhập khẩu từ các tuyến xa.
Tại châu Âu, giá thép phế trong tháng 5 tăng khoảng 3%, trong đó giá tại Đức tăng 3,3% lên 310 euro/tấn xuất xưởng. Thị trường EU nhìn chung duy trì trạng thái ổn định nhờ công suất sản xuất thép tại Tây Âu ở mức cao, qua đó hỗ trợ nhu cầu tiêu thụ phế liệu.
Ở Mỹ, thị trường thép phế tháng 5 tương đối ổn định với mức tăng 2,1%, lên 362,5 USD/tấn FOB. Diễn biến tại Mỹ trầm lắng hơn so với châu Âu và Thổ Nhĩ Kỳ, chủ yếu được hỗ trợ bởi công suất hoạt động cao tại các nhà máy và nhu cầu ổn định từ các lò hồ quang điện. Hoạt động xuất khẩu diễn biến không đồng đều khi bờ Tây ghi nhận một số chủng loại tăng giá, trong khi bờ Đông gần như đi ngang. Do nhu cầu quốc tế yếu và giá xuất khẩu chưa hấp dẫn, nhiều thương nhân ưu tiên tiêu thụ tại thị trường nội địa.
Riêng tại Trung Quốc, thị trường ghi nhận diễn biến trái chiều trong tháng 5 khi giá thép phế nội địa tăng 1,8% lên 360,2 USD/tấn, trong khi giá nhập khẩu giảm mạnh 6,5% xuống còn 360,2 USD/tấn CFR. Đầu tháng, lượng phế liệu về nhiều trước kỳ nghỉ khiến giá điều chỉnh giảm do các nhà máy duy trì tâm lý thận trọng. Sau kỳ nghỉ, hoạt động sản xuất phục hồi đã thúc đẩy các nhà máy tăng cường thu mua, kéo giá nội địa đi lên nhờ biên lợi nhuận cải thiện.
Tuy nhiên, nửa cuối tháng xuất hiện thêm áp lực mới khi doanh thu doanh nghiệp tăng mạnh kéo theo chi phí xử lý chứng từ thuế gia tăng, gây khó khăn trong thanh toán và tạo sức ép lên các cơ sở chế biến. Trong khi đó, phân khúc nhập khẩu tiếp tục suy yếu do giá chào bán từ nước ngoài cao hơn giá nội địa, khiến nhu cầu mua từ phía Trung Quốc duy trì ở mức thấp.
Cập nhật giá thép trong nước
Giá thép xây dựng tại các doanh nghiệp trong nước tiếp tục ổn định. Cụ thể, tại Hòa Phát, thép CB240 và D10 CB300 cùng được niêm yết ở mức 15.430 đồng/kg.
Tương tự, Thép Việt Ý miền Bắc ghi nhận giá thép CB240 và D10 CB300 lần lượt ở mức 15.150 đồng/kg và 14.700 đồng/kg. Thép Việt Đức miền Bắc niêm yết giá CB240 và CB300 lần lượt ở mức 15.250 đồng/kg và 15.050 đồng/kg. Một số doanh nghiệp khác như thép VJS miền Bắc, Pomina và Thép Miền Nam hiện vẫn duy trì mặt bằng giá ổn định.
Hà Trần (t/h)
























