Giá tiêu trong nước cao nhất 140.500 đồng/kg

Thị trường hồ tiêu trong nước sáng 4/10 không ghi nhận biến động mới. Giá tiêu tại các vùng sản xuất trọng điểm tiếp tục dao động 136.500-140.500 đồng/kg.

Đắk Nông, thuộc tỉnh Lâm Đồng, đang có mức giá cao nhất với 140.500 đồng/kg. Đắk Lắk đứng tiếp theo ở mức 138.500 đồng/kg.

Tại Bà Rịa - Vũng Tàu, thuộc TP.HCM, giá tiêu duy trì 137.000 đồng/kg. Gia Lai và Đồng Nai cùng ghi nhận mức 136.500 đồng/kg, thấp nhất trong các địa phương được khảo sát.

Như vậy, sau khi đồng loạt tăng 500 đồng/kg vào đầu tháng 10, thị trường hồ tiêu trong nước đang bước vào giai đoạn ổn định. Giá chưa xuất hiện thêm những biến động đáng kể sau nhịp tăng trước đó.

So với cuối tháng 8, mặt bằng giá hiện tại vẫn cao hơn. Diễn biến này cũng củng cố nhận định của cơ quan chuyên môn rằng, giá tiêu trong nước có thể tiếp tục duy trì ở vùng cao trong ngắn hạn.

Giá tiêu thế giới phân hóa

Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu tiếp tục diễn biến không đồng nhất giữa các quốc gia sản xuất lớn.

Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen ASTA 570 của Brazil giảm 50 USD/tấn, tương đương 0,85%, xuống 5.800 USD/tấn.

Tại Malaysia, giá tiêu đen cũng giảm 50 USD/tấn, tương đương 0,54%, còn 9.200 USD/tấn.

Trong khi đó, giá tiêu đen Indonesia giữ nguyên ở mức 6.828 USD/tấn.

Đối với hồ tiêu Việt Nam, giá xuất khẩu tiếp tục ổn định. Tiêu đen loại 500 g/l được chào bán ở mức 5.970 USD/tấn, trong khi loại 550 g/l đạt 6.075 USD/tấn.

Ở phân khúc tiêu trắng, Malaysia giảm 50 USD/tấn, tương đương 0,41%, xuống 12.100 USD/tấn.

Tiêu trắng Muntok của Indonesia duy trì ở mức 9.348 USD/tấn, còn tiêu trắng Việt Nam được chào bán khoảng 8.450 USD/tấn.

Diễn biến này cho thấy thị trường hồ tiêu quốc tế chưa hình thành xu hướng tăng hoặc giảm đồng nhất. Giá đang chịu tác động khác nhau tùy từng quốc gia sản xuất, nguồn cung và nhu cầu thu mua.

Giá tiêu được dự báo tiếp tục ở vùng cao

Theo Cục Xuất nhập khẩu, thị trường hồ tiêu thế giới thời gian gần đây chủ yếu trong trạng thái điều chỉnh và chưa hình thành xu hướng rõ ràng.

Đối với Việt Nam, giá xuất khẩu có mức biến động tương đối hẹp so với một số thị trường khác. Đáng chú ý, giá tiêu đen loại 550 g/l và tiêu trắng có thời điểm tăng nhẹ trong khi giá tại một số quốc gia sản xuất lớn giảm.

Sự ổn định tương đối của giá xuất khẩu có thể giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc thực hiện các hợp đồng, đồng thời hạn chế một phần rủi ro từ biến động giá ngắn hạn trên thị trường quốc tế.

Tại thị trường nội địa, giá tiêu trong tháng 9 nhìn chung tăng so với cuối tháng 8.

Tính đến ngày 29/9, Đắk Nông ghi nhận mức tăng mạnh nhất, thêm 3.000 đồng/kg so với ngày 29/8, lên 140.000 đồng/kg.

Đắk Lắk và Bà Rịa - Vũng Tàu cùng tăng 1.500 đồng/kg trong cùng khoảng thời gian, lần lượt lên 138.000 đồng/kg và 136.500 đồng/kg.

Gia Lai, Bình Phước và Đồng Nai cùng tăng khoảng 1.000 đồng/kg, lên 136.000 đồng/kg.

Đáng chú ý, trong tháng 9, giá tiêu nội địa từng tăng lên vùng 137.000-141.000 đồng/kg trong các phiên ngày 10/9 và 15/9. Sau đó, thị trường điều chỉnh giảm khoảng 1.000-2.000 đồng/kg vào cuối tháng nhưng vẫn duy trì cao hơn thời điểm đầu tháng.

Bước sang tháng 10, giá tiêu tiếp tục giữ trong vùng 136.500-140.500 đồng/kg. Việc giá đi ngang sau nhịp tăng cho thấy thị trường hiện chưa xuất hiện áp lực bán đủ lớn để tạo ra một đợt giảm mạnh.

Cục Xuất nhập khẩu dự báo, giá hồ tiêu trong nước nhiều khả năng tiếp tục duy trì ở mức cao trong ngắn hạn. Tuy nhiên, diễn biến cụ thể vẫn phụ thuộc vào xu hướng giá tiêu thế giới, nhu cầu thu mua nguyên liệu và hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp.

Trong bối cảnh thị trường quốc tế đang phân hóa, nhu cầu mua hàng phục vụ các đơn hàng xuất khẩu sẽ là yếu tố đáng chú ý đối với giá tiêu trong nước trong thời gian tới. Nếu lực mua duy trì ổn định, mặt bằng giá hiện tại có thể tiếp tục được giữ vững.

Phúc Hưng