Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu vừa ký Quyết định số 1810 phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045.
Chiến lược đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ hệ thống giáo dục đại học trong bối cảnh chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang tác động ngày càng sâu rộng tới thị trường lao động, phương thức đào tạo và hoạt động nghiên cứu.
Mục tiêu chung là xây dựng hệ thống giáo dục đại học hiện đại, ngang tầm khu vực, có khả năng thích ứng hiệu quả trong thời đại số và trí tuệ nhân tạo; từng bước trở thành hạ tầng tri thức chiến lược quốc gia và một trụ cột của hệ thống đổi mới sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
Tái cấu trúc hệ thống, giảm tối thiểu 20% cơ sở công lập
Một trong những nội dung đáng chú ý của Chiến lược là yêu cầu tái cấu trúc hệ thống giáo dục đại học theo hướng tinh gọn, phân tầng rõ hơn và tập trung nguồn lực.
Đến năm 2035, số cơ sở giáo dục đại học công lập được đặt mục tiêu giảm tối thiểu 20% so với năm 2025. Cùng với quá trình sắp xếp, 100% cơ sở giáo dục đại học phải đạt chuẩn.
Thay vì phát triển chủ yếu dựa trên quy mô, hệ thống giáo dục đại học sẽ chuyển trọng tâm sang chất lượng, hiệu quả và mức độ đóng góp đối với phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Theo định hướng, hệ thống sẽ được tổ chức theo các nhóm với sứ mạng khác nhau. Nhóm giáo dục đại học đại chúng có vai trò mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục đại học. Các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm giữ vai trò nòng cốt trong thực hiện những nhiệm vụ quốc gia, ngành và vùng. Ở cấp độ cao hơn, một số đại học tinh hoa được phát triển theo mô hình đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới.
Khoảng 30 cơ sở giáo dục đại học trọng điểm sẽ được định hướng lựa chọn, trong đó từ 3-5 cơ sở được phát triển thành đại học tinh hoa.
Việc phân nhóm không đơn thuần nhằm tạo thêm một hệ thống xếp hạng các trường mà hướng tới xác định rõ sứ mạng, tiêu chuẩn, trách nhiệm cũng như cơ chế đầu tư tương ứng với từng nhóm cơ sở giáo dục đại học.
Đầu tư không còn theo hướng dàn đều
Cùng với việc tổ chức lại hệ thống, phương thức phân bổ nguồn lực cho giáo dục đại học cũng được định hướng thay đổi. Thay vì đầu tư dàn đều, nguồn lực Nhà nước sẽ tập trung theo sứ mạng, chất lượng, hiệu quả và sản phẩm đầu ra. Các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm, ngành đào tạo then chốt, công nghệ chiến lược và những nhiệm vụ gắn với yêu cầu phát triển quốc gia sẽ được ưu tiên.
Theo định hướng này, năng lực thực tế và kết quả hoạt động sẽ trở thành những căn cứ quan trọng để các trường tiếp cận nguồn lực đầu tư. Các cơ sở giáo dục đại học đồng thời phải nâng cao trách nhiệm đối với hiệu quả sử dụng nguồn lực và kết quả đào tạo, nghiên cứu.
Cách thức quản trị đại học cũng được đặt ra yêu cầu chuyển đổi, từ quản lý hành chính nặng về thủ tục sang quản trị chiến lược, quản trị dựa trên dữ liệu và theo hướng kiến tạo phát triển. Đây được xem là nền tảng để các trường chủ động hơn trong hoạt động, đồng thời gắn quyền tự chủ với trách nhiệm giải trình và chất lượng thực tế.
Phấn đấu 90% sinh viên tốt nghiệp có việc làm phù hợp
Bên cạnh tái cấu trúc hệ thống, Chiến lược đưa ra một loạt chỉ tiêu cụ thể về quy mô, chất lượng và cơ cấu đào tạo đến năm 2035. Theo đó, tỷ lệ người học đại học trong nhóm dân số từ 18-22 tuổi phấn đấu đạt 45%. Người học sau đại học chiếm 15%, trong khi người học các ngành STEM chiếm 40% quy mô ở mỗi trình độ.
Đáng chú ý, mục tiêu về đầu ra được lượng hóa bằng tỷ lệ việc làm: 90% người tốt nghiệp có việc làm phù hợp trong vòng 12 tháng sau khi hoàn thành chương trình.
Việc đưa khả năng tìm được việc làm phù hợp vào nhóm chỉ tiêu quan trọng cho thấy định hướng gắn chặt hơn giữa giáo dục đại học với nhu cầu của thị trường lao động, thay vì chỉ chú trọng số lượng tuyển sinh và số người tốt nghiệp. Tinh thần này cũng được thể hiện trong định hướng tuyển sinh. Mục tiêu của các trường không chỉ là tuyển đủ chỉ tiêu mà phải lựa chọn người học phù hợp với yêu cầu và năng lực đào tạo.
Quy mô tuyển sinh sẽ được xác định trên cơ sở nhiều yếu tố, gồm chất lượng nguồn tuyển, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, nhu cầu nhân lực và khả năng tìm kiếm việc làm của người học sau tốt nghiệp.
Đào tạo theo những gì xã hội cần
Một thay đổi quan trọng khác là yêu cầu gắn hoạt động đào tạo với nhu cầu thực tế của nền kinh tế và xã hội. Các cơ sở giáo dục đại học được định hướng chuyển từ tư duy “đào tạo những gì mình đang có” sang đào tạo những gì đất nước, thị trường lao động và xã hội cần.
Theo đó, dữ liệu về nhu cầu nhân lực, tình hình việc làm, thu nhập của người tốt nghiệp và phản hồi từ doanh nghiệp sẽ được sử dụng làm căn cứ để quyết định mở ngành, điều chỉnh chương trình cũng như xác định quy mô đào tạo.
Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu các trường phải thường xuyên cập nhật biến động của thị trường lao động, đặc biệt trong những lĩnh vực đang thay đổi nhanh dưới tác động của trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và chuyển đổi số.
Với mục tiêu đến năm 2035 hiện đại hóa toàn diện giáo dục đại học, Chiến lược không chỉ đặt vấn đề giảm số lượng cơ sở công lập mà hướng tới một cuộc tái cấu trúc sâu hơn: phân định rõ sứ mạng từng nhóm trường, tập trung nguồn lực cho những cơ sở có năng lực, nâng chuẩn chất lượng và gắn kết chặt chẽ hơn giữa đào tạo với nhu cầu nhân lực.
Tầm nhìn đến năm 2045 là hình thành hệ thống giáo dục đại học có năng lực cạnh tranh cao, đóng vai trò quan trọng trong đào tạo nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, qua đó tạo nền tảng tri thức phục vụ sự phát triển dài hạn của đất nước.
Minh Thắm























