Theo báo cáo của Sở Xây dựng Hà Nội, hiện thành phố đã quy hoạch tổng cộng 7 tuyến đường vành đai với tổng chiều dài hơn 303km, bao gồm 5 tuyến chính là Vành đai 1, 2, 3, 4, 5 và 2 tuyến hỗ trợ là Vành đai 2,5 và 3,5. Trong định hướng quy hoạch tổng thể Thủ đô với tầm nhìn 100 năm, Hà Nội sẽ bổ sung thêm tuyến Vành đai 4,5 – vốn đang được định hình là trục kinh tế Bắc – Nam. Khi đó, toàn mạng lưới sẽ nâng lên thành 8 tuyến, với tổng chiều dài khoảng 377km.

Hệ thống này được phân chia thành các tuyến khép kín và các tuyến vành đai mở. Hiện đã có 4 tuyến cơ bản khép kín gồm Vành đai 2, 3, 4 và 5, trong khi 4 tuyến còn lại đóng vai trò bổ trợ, giúp phân luồng và giảm tải cho khu vực nội đô. Các tuyến vành đai được thiết kế kết nối với hầu hết các trục hướng tâm, qua đó tạo mạng lưới giao thông liên hoàn giữa nội đô và các vùng lân cận.

Ảnh minh hoạ
Ảnh minh hoạ

Trong số đó, nhiều tuyến được xác định là trục chính đô thị như Vành đai 1, 2, 2,5, 3,5 và 4,5. Hai tuyến Vành đai 3 và 4 có vai trò cao tốc đô thị với các đoạn đường trên cao, còn Vành đai 5 được định hướng là tuyến cao tốc liên vùng. Đây là những trục giao thông chiến lược, vừa giải quyết áp lực đi lại, vừa tạo dư địa phát triển đô thị theo hướng giãn dân.

Tuy nhiên, tiến độ triển khai vẫn còn nhiều thách thức. Tính đến nay, toàn hệ thống mới hoàn thành khoảng 98km, tương đương hơn 26% tổng chiều dài quy hoạch. Khoảng 134km đang trong quá trình đầu tư, chiếm gần 36%, trong khi hơn 127km chưa được nghiên cứu triển khai. Đáng chú ý, một số tuyến trong khu vực trung tâm như Vành đai 2,5 và 3,5 vẫn chưa kết nối đồng bộ, gây gián đoạn trong khai thác hiệu quả.

Một trong những điểm nghẽn lớn nhất là công tác giải phóng mặt bằng và tái định cư, đặc biệt tại các đoạn tuyến đi qua khu vực đông dân cư như Dịch Vọng – Dương Đình Nghệ, Trung Kính – Trần Duy Hưng hay Ngụy Như Kon Tum – Nguyễn Trãi. Chi phí lớn và tác động xã hội rộng khiến nhiều dự án gặp khó về tiến độ và tính khả thi.

Trong giai đoạn tới, Hà Nội dự kiến đẩy mạnh hàng loạt dự án trọng điểm. Với Vành đai 2, thành phố đang xem xét phương án mở rộng đoạn từ Ngã Tư Sở đến Cầu Giấy với quy mô lớn, bao gồm cả đường trên cao và dưới thấp, tổng mức đầu tư hơn 21.000 tỷ đồng. Tuyến Vành đai 2,5 cũng được thúc đẩy hoàn thành các đoạn còn dang dở trong năm 2026 nhằm tăng tính kết nối.

Đối với Vành đai 3, thành phố đang hoàn thiện hồ sơ nghiên cứu tiền khả thi đoạn kết nối với trục Võ Văn Kiệt và Vành đai 4, qua đó hình thành mạng lưới liên kết với sân bay và các khu vực phát triển mới. Trong khi đó, tuyến Vành đai 4,5 được đề xuất nâng cấp thành tuyến vành đai chính thức và triển khai theo hình thức đối tác công – tư, tạo động lực huy động nguồn lực xã hội.

Riêng Vành đai 5 – tuyến cao tốc liên vùng – cũng đang được kiến nghị triển khai theo mô hình PPP, nhằm đẩy nhanh tiến độ và giảm áp lực ngân sách. Song song với đó, thành phố đang phối hợp với các cơ quan liên quan để hoàn thiện quy hoạch tổng thể Thủ đô, trong đó hệ thống đường vành đai là trụ cột quan trọng.

Khi hoàn thiện, mạng lưới 8 tuyến vành đai không chỉ giúp Hà Nội giải quyết bài toán ùn tắc kéo dài mà còn định hình lại không gian phát triển đô thị. Các trục vành đai sẽ trở thành hành lang kinh tế mới, kéo giãn dân cư ra khỏi khu vực lõi, đồng thời tạo điều kiện phát triển các đô thị vệ tinh và khu công nghiệp hiện đại.

Giới chuyên gia nhận định, nếu được triển khai đồng bộ và đúng tiến độ, hệ thống vành đai sẽ trở thành “xương sống” của hạ tầng giao thông Hà Nội trong nhiều thập kỷ tới, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh và chất lượng sống của đô thị đặc biệt này.

Phương Thảo(t/h)