Để nâng cao hiệu quả sản xuất và tạo nền tảng phát triển bền vững, cần ưu tiên đổi mới quy trình kỹ thuật trong phát triển các ngành hàng chủ lực. Trọng tâm là đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và quy trình sản xuất hiện đại vào các lĩnh vực như lúa, cam, bưởi, chăn nuôi lợn, bò, hươu, tôm….

Thực tế tại Hà Tĩnh trong thời gian qua cho thấy, một số vùng đã bước đầu áp dụng các quy trình VietGAP, IPM, SRI,… trong sản xuất lúa và cây ăn quả có múi tại các địa bàn như Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang,…góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và giảm chi phí đầu vào.
Tuy nhiên, phạm vi triển khai còn hạn chế, vì vậy cần tiếp tục lựa chọn và đưa vào sản xuất các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng chống chịu tốt với hạn hán, lũ lụt; đồng thời mở rộng áp dụng các phương thức canh tác bền vững như “3 giảm, 3 tăng”, SRI, IPM, VietGAP, nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ và tuần hoàn, gắn với liên kết chuỗi giữa doanh nghiệp và hợp tác xã. Bên cạnh đó, cần phát triển trồng rừng gỗ lớn gắn với cấp chứng chỉ rừng bền vững (FSC), góp phần tiết kiệm chi phí đầu vào, giảm phát thải và bảo vệ môi trường sinh thái.

Bên cạnh đó, phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp tổng hợp, tuần hoàn là hướng đi phù hợp với điều kiện sản xuất của tỉnh. Thực tiễn tại một số địa phương ven biển như Cẩm Xuyên, Kỳ Anh,… đã hình thành các mô hình phát triển nông nghiệp tuần hoàn như: lúa - tôm, lúa - cá, mô hình chăn nuôi lợn liên kết với Tập đoàn Quế Lâm,…bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân, giảm lãng phí tài nguyên.
Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ xử lý chất thải, tái chế phụ phẩm trong chăn nuôi, sản xuất phân hữu cơ, năng lượng sinh học,… vẫn còn manh mún. Vì vậy, cần đẩy mạnh chuyển giao các công nghệ xử lý chất thải chăn nuôi, chế phẩm sinh học, công nghệ sản xuất thức ăn chăn nuôi tiên tiến, đồng thời khuyến khích các mô hình chăn nuôi tuần hoàn, không chất thải nhằm giảm ô nhiễm môi trường và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên. 
Trong khâu bảo quản và chế biến, đây hiện vẫn là điểm nghẽn của nông nghiệp Hà Tĩnh. Một số sản phẩm như cam, bưởi, thủy sản sau thu hoạch còn phụ thuộc nhiều vào tiêu thụ tươi, thiếu hệ thống kho lạnh và chế biến sâu. Do đó, cần ưu tiên đầu tư công nghệ bảo quản hiện đại như kho lạnh, sấy lạnh, sấy thăng hoa; đồng thời phát triển công nghiệp chế biến gắn với các vùng nguyên liệu tập trung.
Chuyển đổi số trong nông nghiệp cũng là một giải pháp đột phá nhưng thực tế triển khai tại Hà Tĩnh còn ở giai đoạn ban đầu. Một số mô hình ứng dụng công nghệ số trong truy xuất nguồn gốc, quản lý sản xuất đã được thử nghiệm nhưng chưa đồng bộ. Vì vậy, cần thúc đẩy ứng dụng các công nghệ như IoT, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong giám sát sản xuất, cảnh báo dịch bệnh, quản lý vùng trồng, vùng nuôi; đồng thời xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu ngành nông nghiệp phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành và kết nối tiêu thụ sản phẩm.

Ngoài ra, yếu tố nhân lực đóng vai trò quyết định trong việc ứng dụng khoa học công nghệ. Thực tế cho thấy trình độ tiếp cận công nghệ của đa số nông dân còn hạn chế, công tác chuyển giao kỹ thuật chưa đồng đều giữa các vùng. Do đó, cần tăng cường đào tạo, tập huấn, huấn luyện chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật ở cơ sở và người nông dân; đồng thời đẩy mạnh liên kết “4 nhà” (nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp - nông dân), khuyến khích doanh nghiệp đầu tư (Tập đoàn Quế Lâm, Công ty Cổ phần thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao, Công ty cổ phần Nafoods Group,…) vào lĩnh vực nông nghiệp, hình thành các chuỗi giá trị bền vững.
Có thể khẳng định, việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ cần được cụ thể hóa bằng các giải pháp gắn với điều kiện thực tiễn của địa phương không chỉ giúp nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất mà còn tạo nền tảng cho Hà Tĩnh phát triển nền nông nghiệp hiện đại, bền vững.
Khánh Trình


























