PV Chu Thanh Vân (Thông tấn xã Việt Nam): Xin hỏi Bộ Xây dựng, sau những nỗ lực tháo gỡ khó khăn pháp lý cho thị trường bất động sản, kỳ vọng về sự phát triển của thị trường này trong năm 2026 sẽ như thế nào?

Ông Hà Quang Hưng, Phó Cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản, Bộ Xây dựng: Trong năm 2025, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các bộ ngành tập trung triển khai và tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, pháp lý và nguồn vốn. Trong năm 2026, thị trường được kỳ vọng sẽ bước sang giai đoạn phục hồi rõ nét hơn.
Cụ thể, trong năm 2025, chúng ta đã ghi nhận những chuyển biến tích cực trong việc rà soát, sửa đổi các cơ chế chính sách. Thứ nhất là pháp luật về đất đai. Thứ hai là pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn. Thứ ba là pháp luật về xây dựng. Thứ tư là pháp luật về nhà ở. Cùng với đó là các luật liên quan đến đầu tư và tài chính, ngân hàng. Vừa qua, chúng ta đều đã sửa đổi, bổ sung và rà soát để xử lý các vấn đề, các điểm nghẽn trong những lĩnh vực này. Qua đó, nhiều dự án thời gian trước đó bị vướng mắc liên quan đến thể chế đã được phân loại và xử lý theo thẩm quyền. Các thủ tục hành chính cũng được điều chỉnh cắt giảm theo hướng công khai, minh bạch và giảm thời gian chuẩn bị đầu tư cho dự án. Đây là tiền đề rất quan trọng cho doanh nghiệp và người dân, đồng thời tạo môi trường đầu tư kinh doanh ổn định.
Trên cơ sở đó, chúng tôi kỳ vọng thị trường bất động sản năm 2026 sẽ ghi nhận sự cải thiện đồng bộ cả ở phía cung và phía cầu.
Về nguồn cung, rất nhiều dự án vướng mắc trong thời gian vừa qua, từng bị đình trệ, rồi chậm triển khai, sẽ được tháo gỡ và tái khởi động. Đặc biệt là các dự án hoàn thiện về pháp lý, đủ điều kiện triển khai dự kiến sẽ tiếp tục tăng hơn so với năm 2025. Như vậy, chúng ta sẽ có nguồn cung lớn hơn năm 2025.
Việc khơi thông nguồn cung này sẽ góp phần điều tiết mặt bằng giá và giúp thị trường giảm áp lực nóng như thời gian qua. Người dân có nhu cầu thực sẽ có cơ hội, điều kiện để tiếp cận các sản phẩm nhà ở phù hợp với thu nhập của mình.
Tính thanh khoản của thị trường có xu hướng phục hồi theo hướng thực chất hơn, gắn với nhu cầu ở thực và nhu cầu đầu tư dài hạn thay vì phụ thuộc vào các chu kỳ tăng nóng và ngắn hạn.
Các phân khúc mà chúng tôi đánh giá trong năm 2025 và 2026 sẽ tiếp tục được tăng mạnh hơn, đó là nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân và nhà ở thương mại giá rẻ sẽ được ưu tiên phát triển trong thời gian tới.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, thị trường bất động sản thời gian tới sẽ vẫn chịu tác động từ kinh tế vĩ mô, những biến động trong và ngoài nước, rồi biến động lãi suất và chi phí vốn cũng như các yêu cầu khác về quy hoạch, tiêu chuẩn, quy chuẩn nhà ở, rồi bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững. Như vậy, việc điều hành chính sách cần tiếp tục bảo đảm hài hòa để giữ được mục tiêu tăng trưởng và kiểm soát rủi ro.
Nhìn chung, thị trường bất động sản năm 2026 dự báo sẽ sôi động trong sự thận trọng, với phân khúc căn hộ và nhà ở phục vụ nhu cầu trực tiếp sẽ tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt; sự phân hóa sẽ ngày càng rõ nét khi người mua nhà ở, nhà đầu tư ưu tiên các dự án có pháp lý minh bạch, hạ tầng đồng bộ, giá trị sử dụng thực và uy tín của chủ đầu tư.
Đây sẽ là nền tảng để thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, giảm đầu cơ và hướng tới tăng trưởng bền vững trong giai đoạn mới.
PV Lý Hà (tạp chí Kinh tế Việt Nam): Với kết quả kinh tế tháng 1, 2, Chính phủ đánh giá như thế nào về khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng của quý 1/2026 trong điều kiện kinh tế thế giới còn nhiều biến động khó lường, đặc biệt liên quan đến chính sách thương mại về thuế quan của các đối tác lớn? Chính phủ sẽ ưu tiên nguồn lực và điều hành chính sách ra sao đối với các lĩnh vực then chốt như đầu tư công, đất đai, năng lượng... nhằm giữ được ổn định vĩ mô và đạt được mục tiêu tăng trưởng 2026?
Theo công bố mới nhất, có hơn 1,67 triệu tỷ đồng được khơi thông từ 3.289 dự án đất đai tồn đọng, chậm triển khai. Chính phủ có cơ chế giám sát và bảo đảm như thế nào để nguồn lực này thực sự được đưa vào khai thác, tạo đà tăng trưởng thực chất, đồng thời tháo gỡ được vướng mắc, vừa không phát sinh rủi ro mới?

Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi: Ngay từ đầu năm, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán NSNN năm 2026, trong đó yêu cầu các cấp, ngành, địa phương tập trung chỉ đạo, điều hành thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP cả nước năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn. Đồng thời, Nghị quyết đã xác định kịch bản tăng trưởng GDP theo từng quý và các chỉ tiêu cụ thể cho từng nhóm ngành, lĩnh vực.
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã lãnh đạo, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai ngay các công việc nhằm giữ đà, giữ nhịp; thực hiện quyết liệt, hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các nghị quyết, kết luận của Đảng, Quốc hội, các nghị quyết đột phá của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 01/NQ-CP, Chỉ thị số 06/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về nhiệm vụ trọng tâm sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, phấn đấu hoàn thành kịch bản tăng trưởng của cả nước, các ngành, lĩnh vực và địa phương trong quý I/2026.
Trong bối cảnh tình hình thế giới dự báo tiếp tục khó lường, nhất là căng thẳng địa chính trị, xung đột quân sự, cạnh tranh chiến lược, chính sách thương mại của các nền kinh tế lớn; kinh tế toàn cầu dự báo tăng trưởng chậm, tiềm ẩn nhiều rủi ro; trong nước, khối lượng công việc cần triển khai ngay sau Tết là rất lớn, yêu cầu phải khẩn trương, tập trung xử lý với tinh thần "làm việc sớm, vào việc ngay", quyết liệt, chủ động, linh hoạt, sáng tạo hơn nữa trong công tác chỉ đạo, điều hành, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra. Theo đó, để đảm bảo hoàn thành mục tiêu tăng trưởng năm 2026, cần tập trung thực hiện một số nhóm giải pháp sau đây:
Thứ nhất, hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật; đầy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh;
Thứ hai, tiếp tục ưu tiên thúc đầy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn, nợ công, bội chi NSNN trong giới hạn quy định; ứng phó kịp thời, hiệu quả với các biến động kinh tế, thương mại thế giới; thúc đầy và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống (đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu), khai thác mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới;
Thứ ba, chuyển đổi căn bản mô hình tăng trưởng dựa vào năng suất và đổi mới sáng tạo; đặt nâng cao năng suất, chất lượng nguồn nhân lực, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo vào trung tâm của chiến lược phát triển; cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng xanh, số, tuần hoàn, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực chính, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, tính tự chủ, sức chống chịu của nền kinh tế;
Thứ tư, tập trung đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng chiến lược hiện đại, đồng bộ, tạo nền tảng cho năng lực cạnh tranh quốc gia, nhất là các công trình giao thông trọng điểm, hệ thống giao thông trục quốc gia, đường sắt, sân bay quốc tế, cảng biển, năng lượng; thúc đầy các dự án có tính liên vùng, hạ tầng đô thị lớn, hạ tầng chuyển đổi số; điều chỉnh quy hoạch phù hợp với bối cảnh mới;
Thứ năm, tạo đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là trong lĩnh vực chíp, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo; nâng mặt bằng kỹ năng của toàn xã hội.
Đây là những giải pháp không chỉ riêng quý I mà là trong năm 2026, giai đoạn 2026 -2030.
Về các nội dung cụ thể, tôi xin thông tin thêm: Đối với lĩnh vực nhà ở xã hội, Bộ Xây dựng đang tích cực triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các dự án trọng điểm. Về an ninh năng lượng, Bộ Công Thương cũng đã chủ động phương án đảm bảo cân đối nguồn điện và năng lượng cho sản xuất. Đối với đầu tư công, năm 2026, Chính phủ chỉ đạo triển khai sớm các dự án chuyển tiếp có tính lan tỏa cao. Hiện nay, Bộ Tài chính đang hoàn thiện để trình Quốc hội Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030, tập trung vào các dự án quan trọng quốc gia theo định hướng của Đại hội XIV.
Về kết quả thực hiện hai tháng đầu năm 2026, các chỉ số kinh tế đều hết sức tích cực: Thu ngân sách nhà nước đạt 601,3 nghìn tỷ đồng, tương đương 23,8% dự toán; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng (xuất khẩu tăng 22,3%, nhập khẩu tăng 18,5%); chỉ số sản xuất công nghiệp 2 tháng tăng khoảng 10% so với cùng kỳ. Đặc biệt, chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 2 đạt 54,3 điểm, đánh dấu tháng thứ 8 liên tiếp nằm trên ngưỡng 50 điểm.
Với những kết quả khả quan này, chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng các mục tiêu tăng trưởng kinh tế của quý I và cả năm 2026 sẽ đạt được như kỳ vọng.
Về câu hỏi thứ hai, trong quá trình xử lý khó khăn, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo 3 nguyên tắc xuyên suốt: (1) Phải xử lý theo hành lang pháp lý hiện hành; (2) Quá trình tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phải xử lý các vi phạm của cá nhân, tổ chức có liên quan trong các kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án, không hợp thức hóa các sai phạm và không làm phát sinh sai phạm mới; (3) Đẩy mạnh phân cấp cho các địa phương trực tiếp xử lý dứt điểm theo đúng thẩm quyền, đúng quy định pháp luật sau khi đã có các cơ chế chính sách cấp thẩm quyền cho phép tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.
Đối với các dự án cần có chính sách đặc thù, trình Quốc hội cho phép áp dụng để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Trong quá trình xây dựng chính sách, trình Quốc hội, Chính phủ đã xây dựng, đề xuất các cơ chế giám sát, tổ chức thực hiện, đảm bảo việc thực thi chính sách chặt chẽ, đúng đối tượng, không để phát sinh sai phạm mới. Trên cơ sở kiến nghị của Chính phủ, tại các Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn như Nghị quyết số 170/2024/QH15 về cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án, giao cho Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội không để phát sinh tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện, không hợp thức hóa sai phạm, không để phát sinh sai phạm mới, không để xảy ra việc trục lợi chính sách, lợi ích nhóm, thất thoát lãng phí. Chính phủ đã cụ thể hóa chủ trương trên tại Nghị quyết, Nghị định hướng dẫn để các bộ, địa phương thực hiện tháo gỡ khó khăn, vướng mắc các dự án có hiệu quả, chặt chẽ về mặt pháp lý. Đồng thời, Nghị quyết của Quốc hội cũng giao các cơ quan Tòa án nhân dân Tối cao, Viện Kiểm soát nhân dân Tối cao, Kiểm toán Nhà nước phối hợp giám sát, tổ chức thực hiện các chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn theo quy định pháp luật và Nghị quyết Quốc hội đảm bảo việc thực hiện chính sách đúng quy định.
Đối với các dự án khó khăn, vướng mắc, các bộ, địa phương chủ động xử lý theo thẩm quyền. Trong thời gian qua, Chính phủ đã tích cực rà soát, nhận diện các khó khăn vướng mắc trong việc thực thi các luật, nghị định liên quan đến nhiều lĩnh vực đầu tư, sản xuất kinh doanh, đất đai, xây dựng... để trình Quốc hội sửa đổi, ban hành mới. Theo đó, các cơ chế giám sát việc thực hiện dự án đã được thể chế hóa trong các văn bản pháp lý hiện hành như Luật sửa đổi các Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Quy hoạch, Luật Xây dựng, Luật Đất đai và các nghị định hướng dẫn. Việc này đã tạo hành lang pháp lý mới để xử lý khó khăn vướng mắc của các dự án này. Trên cơ sở đó, các bộ, địa phương chủ động rà soát, tháo gỡ cho các dự án, để các dự án sớm được triển khai tiếp, sớm hoàn thành và đưa vào vận hành nhằm nâng cao năng lực kinh tế xã hội cho đất nước.
Bên cạnh đó, trong quá trình tổng hợp, xây dựng cơ chế tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng kéo dài, Ban chỉ đạo 751 cũng đã tích cực tham mưu Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ ban hành nhiều công điện, nghị quyết về tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án theo tinh thần địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm trên cơ sở pháp lý hiện hành. Đồng thời, Chính phủ cũng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương báo cáo kết quả xử lý khó khăn, vướng mắc của từng dự án về Bộ Tài chính và cập nhật trên Hệ thống 751 định kỳ ngày 25 hằng tháng để Ban Chỉ đạo theo dõi, giám sát, đánh giá và kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả tháo gỡ, đảm bảo minh bạch, hiệu quả và thực sự các giải pháp khả thi và tháo gỡ được các khó khăn cho các dự án này.
PV Hoàng Hương (báo Văn hoá): Trong mùa lễ hội 2026, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã có những chỉ đạo gì cho các lễ hội trong nước diễn ra vui tươi, lành mạnh, văn minh và hạn chế các tệ nạn xã hội?

Bà Vi Thanh Hoài, Phó Cục trưởng Cục Văn hóa cơ sở, Bộ VHTT&DL: Thứ nhất, văn bản pháp lý về quản lý và tổ chức lễ hội đã có Nghị định 110 về công tác quản lý và tổ chức lễ hội, thực hiện từ năm 2018.
Thứ hai, năm 2026, thực hiện nghiêm Chỉ thị số 55 ngày 22/12/2025 của Ban Bí thư, Chỉ thị số 36 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức Tết Bính Ngọ, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã ban hành Công văn số 155 ngày 3/1, trong đó đề nghị các địa phương tăng cường các giải pháp quản lý, trọng tâm là công tác đảm bảo nếp sống văn minh trong lễ hội, xây dựng các kế hoạch, phương án tổ chức lễ hội; thực hiện nghiêm các quy định và việc niêm yết giá, kiên quyết xử lý các hành vi lợi dụng di tích, lễ hội trục lợi, mê tín dị đoan. Đặc biệt là đảm bảo an ninh trật tự, an toàn phòng chống cháy, nổ, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm tại các điểm tập trung đông người.
Năm 2026 là năm đầu tiên thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Qua theo dõi chúng tôi nhìn nhận sự phân cấp, phân quyền mạnh mẽ đã tạo ra sự chủ động lớn ở cơ sở. Các địa phương đã chủ động thực hiện công tác quản lý và tổ chức lễ hội, bám sát các quy định tại Nghị định 110 về quản lý và tổ chức lễ hội, đặc biệt là phân cấp, phân quyền trong quản lý, tổ chức. Nhờ đó, các hoạt động lễ hội vừa giữ được giá trị văn hoá truyền thống, vừa đảm bảo tính trang trọng, an toàn, người dân thực sự được đặt vào vị trí chủ thể của lễ hội. Thực tế ngay sau Tết, một số lễ hội lớn đã khai hội như Lễ hội xuân núi Bà Đen, Lễ hội Gò Đống Đa, Lễ hội Chùa Hương, đều đã xây dựng các phương án, kịch bản kỹ lưỡng. Yêu cầu trọng tâm là tập trung triển khai các phương án đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ, vệ sinh môi trường và các phương án cứu hộ, cứu nạn tại khu vực lễ hội.
Trong thời gian tới, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch tiếp tục bám sát tinh thần Chỉ thị số 55 của Ban Bí thư, Chỉ thị số 36 của Thủ tướng Chính phủ, đẩy mạnh việc xây dựng môi trường văn hoá thực sự an toàn, lành mạnh, thông qua việc thực hiện nghiêm các quy định pháp luật và mô hình phân cấp quản lý mạnh mẽ cho địa phương. Đích đến cuối cùng là người dân phải là chủ thể, được tiếp cận và hưởng thụ các giá trị văn hoá truyền thống một cách trang trọng, hiệu quả nhất. Quyết tâm của công tác tổ chức lễ hội là vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm. Đồng thời tăng cường hướng dẫn chuyên môn quản lý lễ hội, đảm bảo thống nhất từ Trung ương đến cơ sở. Việc quan trọng nữa là phối hợp chặt chẽ với các địa phương triển khai các đoàn kiểm tra, giám sát, kịp thời chấn chỉnh và xử lý nghiêm các biểu hiện tiêu cực, mê tín dị đoan trong lễ hội.
Theo chinhphu.vn
























