THCL Thực tế, việc kết nối giữa sản xuất và tiêu thụ tại Thủ đô đang có nhiều hạn chế - cần sớm được gỡ bỏ để góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh trên địa bàn.

Đầy rẫy bất cập
Hà Nội là thành phố đông dân, có sức tiêu thụ lớn nhất nhì cả nước; GDP bình quân đầu người năm 2014 đạt 3.500 USD, dự kiến đến 2020 đạt 7.500 USD; thương mại dịch vụ tăng trưởng khá (12 - 15% trong 5 năm qua). Hà Nội còn đón hàng vạn khách du lịch mỗi ngày, là một thị trường tiêu thụ hàng hóa có chọn lọc và đòi hỏi chất lượng cao.
Tuy nhiên, về hạ tầng thương mại, mặc dù có sự phát triển nhưng hệ thống siêu thị mới chiếm 15% thị phần bán lẻ, còn lại 85% là chợ, cửa hàng nhỏ và hàng rong... Có đến 40 - 50% hạ tầng bán lẻ như chợ, cửa hàng lẻ… đang xuống cấp chưa được xây dựng và cải tạo lại, kể cả khu vực các địa điểm kinh doanh ở các quận nội thành cũ. Quy hoạch hệ thống phát triển hệ thống phân phối đã có, song những điều kiện cần và đủ như mặt bằng, tiền vốn... còn thiếu, đôi lúc quy hoạch bị tùy tiện thực hiện và bị phá vỡ.
Ở khâu sản xuất, lực lượng tạo ra của cải vật chất bị ép giá, lợi nhuận thấp hoặc thua lỗ, động lực phát triển sản xuất bị hạn chế, từ đó dẫn tới nguồn cung lương thực, thực phẩm cho Thủ đô có lúc bị gián đoạn và phụ thuộc (có những mặt hàng phụ thuộc đến 70 - 80% như hải sản, thịt trâu, bò...). Vấn đề VSATTP chưa được giải quyết cơ bản, tỷ lệ rau, thịt lợn an toàn theo các tiêu chuẩn Vietgap và Global Gap còn rất thấp (mới đạt khoảng 8 - 10%/tổng số hàng hóa đưa ra thị trường). Đặc biệt, việc mua bán hàng hóa trên thị trường ít xuất hóa đơn chứng từ, không truy xuất được nguồn gốc; trong khi đó, nạn buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế diễn ra phổ biến và phức tạp. Từ đó, dẫn tới cạnh tranh bình đẳng bị vi phạm trên thương trường, làm thui chột ý chí các DN kinh doanh chân chính…
Nhìn thẳng vào sự thật
Hà Nội có 150 siêu thị, 20 TTTM, nhưng chỉ có 10% siêu thị và TTTM loại 1, còn lại là loại 2 và 3, quy mô vừa và nhỏ là chính. Các siêu thị hàng hóa hầu như giống nhau, ít có điểm khác biệt, ít đổi mới cả về phong cách phục vụ.
Công tác quản trị DN còn yếu, chiến lược kinh doanh chưa đầy đủ, chi phí vốn cao, nguồn nhân lực chưa được đào tạo bài bản. Do vậy, việc cạnh tranh trên thị trường với các DN ngoại đủ sức mạnh về mọi mặt là rất khó khăn. Ngoài ra, DN nội còn bị vướng các thủ tục về hành chính, tiếp cận đất đai… làm cho chi phí lưu thông cao, khó cạnh tranh.
Hàng Việt ở trong các siêu thị hiện nay chủ yếu là hàng nông sản thực phẩm. Tuy nhiên, với xu thế hội nhập, hàng nông sản thực phẩm các nước sẽ thâm nhập ngày càng mạnh mẽ vào các siêu thị nội địa và thị trường Việt Nam; nguy cơ hàng Việt bị xâm lấn ngày càng diễn ra mạnh mẽ. Từ đó, người tiêu dùng Thủ đô có nhiều quyền lựa chọn hơn, nhưng đồng thời cũng đặt ra bài toán nâng cao năng lực cạnh tranh ở thị trường Thủ đô cho các siêu thị Việt, hàng hóa Việt và ngành công nghiệp bán lẻ Việt Nam.
Đứng trước tình hình trên, chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật để thực sự tổ chức tốt việc kết nối sản xuất và tiêu thụ hàng nông sản thực phẩm Việt trên địa bàn. Cần làm tốt công tác quy hoạch mạng lưới phục vụ một cách văn minh, hiệu quả, bảo đảm quyền lợi cho người tiêu dùng, đặc biệt chú trọng nâng cấp cơ sở hạ tầng như chợ, cửa hàng siêu thị, TTTM, đáp ứng nhu cầu phát triển xứng với tầm vóc của Thủ đô. Bên cạnh đó, có những cơ chế chính sách phù hợp hỗ trợ hệ thống phân phối nội địa, phát triển chuỗi sản xuất phân phối, trước hết là những mặt hàng thiết yếu như gạo, thịt, rau quả để phục vụ người dân Thủ đô. Chuỗi cung này phải đi bằng con đường ngắn nhất, chi phí thấp nhất mới có thể cạnh tranh trên thị trường với các sản phẩm ngoại nhập. Xây dựng một số tập đoàn bán lẻ mạnh, vừa cạnh tranh, vừa hợp tác với các tập đoàn bán lẻ nước ngoài, tạo điều kiện cho hàng Việt thâm nhập vào hệ thống siêu thị nội địa.
Vũ Vinh Phú
Chủ tịch Hiệp hội Siêu thị Hà Nội






















