
Tái định vị ngành thủy sản theo hướng hiện đại, hội nhập
Sở hữu hơn 192 km bờ biển và vùng biển khoảng 52.000 km², Lâm Đồng có nhiều lợi thế về nguồn lợi hải sản và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho nuôi biển. Tuy nhiên, thay vì khai thác theo phương thức truyền thống, tỉnh lựa chọn cách tiếp cận dài hạn: kiến tạo hệ sinh thái thủy sản biển công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao và vận hành theo chuẩn quốc tế.

Theo UBND tỉnh, mục tiêu đến năm 2030, toàn tỉnh Lâm Đồng mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản khu vực vũng vịnh kín và nửa kín, thủy sản sẽ trở thành ngành sản xuất hiện đại, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, phát triển đồng bộ từ khai thác, hậu cần nghề cá, chế biến đến sản xuất giống hải sản quy mô lớn.
Nuôi biển công nghiệp – động lực trung tâm của kinh tế xanh
Giai đoạn 2026–2030, tỉnh tập trung vào nuôi biển công nghiệp và sản xuất giống, với các mục tiêu cụ thể: 100–150 ha nuôi tại các vũng vịnh kín và nửa kín. 1–2 khu công nghiệp biển mở. 5.000 ha khoanh nuôi nhuyễn thể và hải đặc sản. 50 ha sản xuất giống cá biển công nghệ cao
Việc phát triển được phân vùng sinh thái rõ ràng: Vùng vũng vịnh kín, nửa kín: nuôi lồng bè cá mú, cá bóp, cá chim vây vàng, cá hồng mỹ, tôm hùm tại Phú Quý và khu vực Mũi Kê Gà (khoảng 40 ha).
Vùng biển mở: triển khai khoảng 1.000 ha nuôi công nghiệp tại Phú Quý 2 và 3, ứng dụng lồng nổi HDPE, lồng bán chìm linh hoạt, nuôi đa tầng kết hợp cá biển giá trị cao, hàu đại dương và rong biển.
Các khu vực Vĩnh Hảo, La Gàn, Hòn Cau: phát triển nuôi bán công nghiệp và công nghiệp quy mô lớn.
Xã Hòa Thắng: đề xuất bổ sung 2.000 ha nuôi biển công nghệ cao, đa dạng đối tượng từ cá, tôm, cua ghẹ đến nhuyễn thể và rong biển.
Mô hình nuôi đa tầng, đa loài giúp tận dụng không gian biển, tái sử dụng nguồn dinh dưỡng tự nhiên và giảm áp lực môi trường.
Chuyển từ sản xuất manh mún sang quản lý tổng thể
Một điểm đột phá trong đề án là chuyển đổi phương thức quản lý vùng nuôi. Thay vì nhỏ lẻ, tự phát, tỉnh tổ chức nuôi theo cụm và trang trại công nghiệp quy mô tối thiểu 100 ha tại vùng biển mở, thực hiện theo dự án được cấp thẩm quyền phê duyệt.
Các giải pháp công nghệ được đồng bộ hóa: Ứng dụng lồng HDPE bền vững. Sử dụng thức ăn công nghiệp kiểm soát chất lượng. Lắp đặt thiết bị giám sát hành trình và truy xuất nguồn gốc. Hình thành tổ chức cộng đồng quản lý môi trường vùng nuôi.

Đồng thời, 100% tàu cá hoạt động vùng lộng và khơi được trang bị thiết bị điện tử, đảm bảo kiểm soát khai thác hợp pháp, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế.
Mục tiêu sản lượng và giá trị kinh tế đến năm 2030: 50.000–55.000 tấn sản lượng nuôi biển. 2,5–3 tỷ con giống/năm. 5.000–5.200 tỷ đồng giá trị nuôi trồng và sản xuất giống. 50 triệu USD kim ngạch xuất khẩu riêng lĩnh vực nuôi biển
Toàn ngành thủy sản phấn đấu đạt: 262.000 tấn khai thác. 85.000 tấn nuôi trồng. 37 tỷ con giống. 350–400 triệu USD xuất khẩu
Ngành dự kiến tạo việc làm cho 6.500–7.000 lao động và chuyển đổi nghề cho khoảng 3.000 ngư dân ven bờ. Thu nhập lao động thủy sản dự kiến tăng 1,5–1,7 lần so với năm 2025.
Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng ngành giai đoạn 2026–2030 ước đạt 4,5–5%/năm, đóng góp 18–20% giá trị gia tăng khu vực nông – lâm – thủy sản.
Hoàn thiện thể chế, mở rộng thị trường, thích ứng biến đổi khí hậu
UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì phối hợp các đơn vị triển khai đề án, tập trung vào: Tái cơ cấu sản xuất. Hoàn thiện cơ chế chính sách. Huy động vốn đầu tư. Ứng dụng khoa học – công nghệ. Đào tạo nguồn nhân lực. Bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu.
Với định hướng quy hoạch bài bản, ứng dụng công nghệ cao và quản trị theo mô hình kinh tế xanh, Lâm Đồng đang từng bước chuyển mình từ mô hình “khai thác tài nguyên” sang “kiến tạo giá trị bền vững”, xây dựng ngành thủy sản quy mô lớn, minh bạch và có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Hoàng Phương

























