Theo Nghị quyết số 244/2025/QH15 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, chỉ tiêu tăng CPI bình quân khoảng 4,5% được xác định là một trong những mục tiêu quan trọng. Trong khi đó, nền kinh tế đặt kỳ vọng tăng trưởng GDP ở mức cao, khoảng 10%, tạo thêm áp lực nhất định lên mặt bằng giá.

Áp lực lạm phát đến từ cầu tiêu dùng, tín dụng và tỷ giá

Các chuyên gia cho rằng, lạm phát năm 2026 chịu tác động đồng thời của yếu tố chi phí đẩy và cầu kéo. Áp lực chi phí đến từ biến động giá nguyên vật liệu, tỷ giá và lộ trình điều chỉnh giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý; trong khi cầu kéo đến từ quá trình phục hồi tiêu dùng, đầu tư và tác động trễ của tăng trưởng tín dụng năm trước.

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Thanh Hà nhận định, lạm phát tiềm ẩn trong bối cảnh độ mở của nền kinh tế lớn, kim ngạch xuất nhập khẩu dự kiến trên 900 tỷ USD, cùng những biến động từ giá hàng hóa thế giới, chính sách thuế quan và địa chính trị. Ngoài ra, lộ trình điều chỉnh giá một số dịch vụ do Nhà nước quản lý cũng có thể tạo áp lực lên CPI.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Tăng trưởng tín dụng năm 2025 được đánh giá không quá cao so với bình quân 10 năm, song tác động trễ vẫn có thể ảnh hưởng đến giá cả trong năm 2026. Khi mục tiêu tăng trưởng GDP ở mức hai chữ số, tổng cầu của nền kinh tế – bao gồm đầu tư và tiêu dùng – sẽ tăng mạnh, kéo theo nhập khẩu tăng và gây sức ép lên tỷ giá.

Ông Jung Hyo Chang, Giám đốc phụ trách giao dịch ngoại hối và phái sinh của Ngân hàng Shinhan Việt Nam, cho rằng khi mục tiêu tăng trưởng đặt ở mức cao, rủi ro lạm phát và mất cân đối tài chính có thể gia tăng nếu nới lỏng chính sách quá mức.

Nhiều yếu tố giúp ổn định giá cả

Ở chiều ngược lại, áp lực từ giá hàng hóa cơ bản trên thế giới được đánh giá không quá lớn do triển vọng tăng trưởng toàn cầu ở mức thấp. Giá năng lượng, nguyên vật liệu và nông sản khó tăng mạnh như giai đoạn trước, trong khi nguồn cung hàng hóa trong nước, đặc biệt là lương thực – thực phẩm, được dự báo dồi dào.

  1. TS. Nguyễn Đức Độ, Phó Viện trưởng phụ trách Viện Kinh tế - Tài chính, dự báo lạm phát năm 2026 có thể dao động quanh mức 3,5% ± 0,5%, tiếp tục nằm trong tầm kiểm soát của Chính phủ khi các yếu tố tác động hiện ở mức vừa phải.

  2. TS. Lê Quốc Phương cho rằng các yếu tố ổn định giá năm 2026 tương tự năm trước, gồm kinh tế toàn cầu ảm đạm, giá thế giới khó tăng cao, nguồn cung hàng hóa dồi dào và Nhà nước tiếp tục kiểm soát giá năng lượng.

Trong khi đó, PGS.TS Ngô Trí Long nhận định năm 2026 không phải là năm của những cú sốc giá lớn, mà là năm cần sự phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tiền tệ, tài khóa và quản lý giá để giữ ổn định vĩ mô.

Cần phối hợp chặt chẽ chính sách tài khóa – tiền tệ

Các chuyên gia nhấn mạnh, để kiểm soát lạm phát trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng cao, không nên đồng thời nới lỏng mạnh cả chính sách tài khóa và tiền tệ. Thay vào đó, cần thực hiện tài khóa mở rộng có kiểm soát, kết hợp tiền tệ thận trọng.

Một giải pháp quan trọng là định hướng dòng tín dụng vào sản xuất – kinh doanh, tạo ra năng lực mới và hàng hóa mới, hạn chế chảy vào các lĩnh vực rủi ro hoặc đầu cơ. Đồng thời, kiểm soát lượng tiền lưu thông, tránh tăng quá nhanh gây mất cân đối tiền – hàng.

Về dài hạn, các chuyên gia khuyến nghị chuyển dịch mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; phát triển các ngành kinh tế mới; nâng cao năng suất lao động thay vì phụ thuộc vào mở rộng tín dụng.

Theo đánh giá chung, năm 2026 là thời điểm khởi động cho mục tiêu tăng trưởng hai chữ số trong nhiều năm liên tiếp của Việt Nam. Dù áp lực lạm phát còn hiện hữu, việc điều hành chủ động, linh hoạt và phối hợp chính sách hiệu quả được kỳ vọng sẽ giúp kiểm soát CPI dưới ngưỡng 4–4,5%, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.

Thiên Trường