Dù năng lực sản xuất phân bón đã đủ đáp ứng nhu cầu của ngành nông nghiệp trong nước, song sản lượng nhập khẩu vẫn không ngừng tăng cao. Đặc biệt là chênh lệch giá giữa 2 “dòng” phân bón vẫn không hề giảm. Nghịch lý này, đã gây thiệt thòi cho người nông dân.

Nhập khẩu tăng mạnh
Theo Bộ NN&PTNT, năm nay, nhu cầu phân bón cho sản xuất nông nghiệp nước ta cần gần 11 triệu tấn phân bón các loại. Sản xuất trong nước đã tạm thời đáp ứng nhu cầu: phân lân chế biến đạt 1,8 triệu tấn, phân đạm urê đang dư thừa (tổng công suất của 4 nhà máy trong nước lên tới 2,4 triệu tấn).
Tuy nhiên, thời điểm này, sản lượng nhập khẩu phân bón vẫn không ngừng tăng cao: lượng phân bón nhập khẩu trong quý I/2014 là gần 775.000 tấn. Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất cung cấp phân bón cho Việt Nam với hơn 400.000 tấn, tăng 33% và chiếm 51,8% tổng lượng phân bón cả nước nhập về…
Người nông dân hy vọng, khi nguồn phân bón cung cấp cho thị trường dồi dào, sẽ kéo theo giá thành sản phẩm giảm. Tuy nhiên, trái ngược với mong muốn của người dân khi mà giá phân bón vẫn không hề giảm. Vào những đợt cao điểm xuống giống vụ lúa đông xuân và hè thu năm nay, giá phân bón được các doanh nghiệp, đại lý kinh doanh vật tư nông nghiệp ở đồng bằng Bắc bộ tăng thêm khoảng 10.000 - 20.000 đồng/bao 50 kg (tùy loại) so với mức giá bình quân được họ bán ra từ đầu năm đến nay.
Theo báo giá ngày 10/4/2014 của Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo) – nhà sản xuất và kinh doanh phân bón urea mang thương hiệu Đạm Phú Mỹ thì, urea của doanh nghiệp này được bán với giá 7.800 đồng/kg. Trong khi đó, urea cùng loại nhập khẩu của Trung Quốc được bán với giá 7.450 – 7.500 đồng/kg. Tức là, phân bón nhập khẩu sau khi trừ tất cả các loại chi phí vận chuyển, hao hụt, thuế…, vẫn thấp hơn giá phân bón sản xuất trong nước từ 300 – 350 đồng/kg (tương ứng với mức 300.000 – 350.000 đồng/tấn).
Giá cao do đâu?
Kênh phân phối trong nước đang nắm vai trò điều tiết giá trên thị trường, điều tiết nhập khẩu và điều tiết cả sản xuất phân bón trong nước. Kênh phân phối đã đóng vai trò then chốt trong “ổn định” giá bán phân bón ở mức cao. Kênh phân phối ở đây được hiểu là chính những nhà sản xuất trong nước, vì hiện các nhà sản xuất đều tự xây dựng kênh bán hàng cho mình.
Cả nước chỉ có vài doanh nghiệp tự nhập khẩu phân bón để bán. Nhưng chính những doanh nghiệp này cũng là đại lý cấp 1 cho các nhà sản xuất lớn. Như vậy, trong sản lượng trên dưới chục triệu tấn phân bón tiêu thụ tại Việt Nam mỗi năm, sẽ có bao nhiêu chục nghìn tỷ chênh lệch giá mà nông dân phải chi oan uổng cho kênh phân phối này? Và nếu như sự chi ấy là hợp lý, thì tại sao phải đầu tư hàng tỷ USD xây dựng nhà máy sản xuất phân bón trong nước để rồi buộc nông dân phải mua phân bón với giá cao?
Lý giải nguyên nhân khiến giá phân bón tăng mạnh trong những đợt cao điểm xuống giống, ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó cục trưởng Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính), cho biết: Nhà nước đã hỗ trợ bình ổn giá phân bón như áp dụng thuế suất nhập khẩu 5%. Tuy nhiên, việc quản lý mạng lưới cung ứng phân bón đến tay nông dân còn chồng chéo, vòng vèo cộng với tình trạng độc quyền, liên minh độc quyền nhưng chưa được đánh giá, kiểm soát; tình trạng đầu cơ găm hàng, hạch toán chi phí sản xuất và lưu thông chưa hợp lý... cũng góp phần đẩy giá phân bón tăng.
Trong những nguyên nhân trên, hiện tượng độc quyền, liên minh độc quyền có lẽ là một trong những nguyên nhân cơ bản làm giá phân bón tăng và khó kiểm soát. Các loại phân bón đều phải trải qua tối thiểu 3 kênh phân phối, gồm các đại lý cấp tỉnh, cấp huyện và cửa hàng bán lẻ (cấp xã, thôn). Còn trên thực tế, có thể còn thêm kênh phân phối cấp vùng. Do đó, giá thành phân bón đến tay nông dân, bao gồm cả chi phí chiết khấu cho các đại lý hoặc lãi suất của đại lý (trả chậm).
Mỗi DN sản xuất phân bón tổ chức mạng lưới phân phối khác nhau. Chẳng hạn, Đạm Ninh Bình chỉ có 1 đại lý cấp 1, vài đại lý cấp 2, nhưng 50% nông dân mua ở đại lý cấp 3; 40% mua tại đại lý cấp 2, chỉ có 10% mua trực tiếp ở đại lý cấp 1. Tỉnh này có khoảng 1.300 đại lý. Lý do nông dân mua đại lý cấp 3 là họ được mua chịu.
| Vai trò quyết định giá cả phân bón đến tay người nông dân ở Việt Nam không phải là nhà sản xuất, mà ở hệ thống phân phối. Và như vậy, chỉ cần qua vài kênh phân phối, giá phân bón đến tay nông dân đã cao hơn từ 10 - 12% so với giá nhà máy. |
Thanh Hoa





















