THCL Trong những năm qua, không thể phủ nhận những nỗ lực từ phía Nhà nước, các ban ngành chức năng… trong công tác phòng chống HIV/AIDS đã mang lại những kết quả nhất định. Tuy nhiên, trên thực tế, khó khăn, thách thức trong công tác này vẫn còn nhiều.

Nhận thức và hỗ trợ của cộng đồng với công tác phòng chống HIV/AIDS còn hạn chế

Nhận thức và hỗ trợ của cộng đồng với công tác phòng chống HIV/AIDS còn hạn chế. Hoạt động tiếp cận cộng đồng còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với nhóm khó tiếp cận, nhất là trong bối cảnh nguồn lực bị cắt giảm. Kiến thức về điều trị HIV và các bệnh liên quan (viêm gan, lao) còn chưa đầy đủ.

Việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ giảm hại ở nhóm người có nguy cơ cao vẫn còn hạn chế. Độ bao phủ của chương trình Bơm kim tiêm và khuyến khích sử dụng bao cao su có dấu hiệu giảm sút, dẫn tới nguy cơ bùng phát dịch trong thời gian tới. Người TCMT còn chưa tiếp cận được với bơm kim tiêm sạch và đạc biệt là bơm tiêm dung tích chết thấp (hay còn gọi là bơm tiêm Insuline, hoặc bơm kim tiêm 1 ml đầu đỏ), nhất là ở các vùng sâu, vùng xa và vào ban đêm. Các can thiệp cho nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới còn ở quy mô nhỏ và chưa bềnh vững.

Việc mở rộng độ bao phủ chương trình MMT vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu điều trị của người NCMT. Độ bao phủ của chương trình còn thấp, đặc biệt ở các tỉnh trọng điểm như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Thanh Hóa, và Nghệ An. Việc duy trì bệnh nhân đièu trị hang ngày cũng là thchs thức lớn. Ngoài ra còn có những khó khăn khác như nguồn tài chính và nhân lực hạn chế để duy trì và mở rộng chương trình MMT.

Bên cạnh đó, mặc dù xét nghiệm chẩn đoán HIV cho nhóm người nguy cơ cao được coi là một trong những ưu tiên của chương trình, hoạt động này vẫn còn một số hạn chế. Hoạt động tư vẫn xét nghiệm HIV nhằm phát hiện sớm tình trạng nhiễm HIV trong nhóm người có nguy cơ cao vẫn chưa thực sự hiệu quả. Số liệu của chương trình cũng như kết quả của một số nghiên cứu lớn (HSS+, IBBS) cho thấy tỷ lệ bao phủ của chương trình tư vấn xét nghiệm HIV còn cao, đặc biệt là trong nhóm TCMT, PNBD, MSM. Xét nghiệm cho bạn tình của người nhiễm HIV cũng chưa được mở rộng. Bên cạnh đó, thời gian trả kết quả xét nghiệm còn dài, dẫn tới việc mất dấu sau khi được phát hiện.

Hoạt động ước tính kích thước quần thể chưa được thực hiện định kỳ như là 1 phần của hoạt động giám sát, mặc dù trước đây quốc gia đã triển khai hoạt động vẽ bản đồ và đánh giá nhanh. Chưa có phương pháp chuẩn để ước tính quần thể.

Chất lượng số liệu chương trình từ báo cáo định kỳ chưa tốt do năng lực của cán bộ thu thập và tổng hợp số liệu tại tuyến quận/huyện và tỉnh/thành phố còn hạn chế. Báo cáo còn bị nộp chậm do áp lực công việc lớn và thiếu nhân sự. Khối tư nhân vẫn chưa tham gia báo cáo theo hệ thống này. Cán bộ chương trình tại tuyến quận/huyện, tỉnh/thành phố chưa thường xuyên sử dụng số liệu trong lập kế hoạch.

Trong khi đó, hỗ trợ nhân lực và trang thiết bị từ trung ương tới địa phương còn hạn chế và các cán bộ cũng chưa được đào tạo chuyên sâu. Việc thay đổi nhân sự TD-ĐG cũng xảy ra khá phổ biến khiến cho các cán bộ được đào tạo rồi lại được điều chuyển tới các đơn vị khác, còn cán bộ chưa được đào tạo lại phải thực hiện công việc.

Hệ quả, mặc dù số người nhiễm HIV, số mắc và số tử vong do HIV/AIDS đã giảm, nhưng mức độ giảm chưa nhiều, giảm chưa bền vững và số người mới được phát hiện nhiễm HIV hiện vẫn còn ở mức cao. HIV vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây ra gánh nặng bệnh tật và tử vong. Dịch HIV/AIDS đã xảy ra rộng khắp, ở tất cả các địa bàn, 100% số tỉnh, 98% số quận/huyện và 78% số xã/phương. Có những xã, thôn bản có tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS cao gấp trên 10 lần so với trung bình toàn quốc, đặc biệt là ở các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi người dân còn có hiểu biết hạn chế và dịch vụ cũng như nguồn lực chưa đáp ứng được nhu cầu. Một số địa phương tỷ lệ HIV/AIDS đã ở mức dịch toàn thể. Mô hình dịch và các hành vi nguy cơ thay đổi theo hướng phức tạp và khó can thiệp. Lây truyền HIV qua quan hệ tình dục đang có xu hướng gia tăng, cảnh báo sự lây lan của dịch trong cộng đồng dân cư, bao gồm cả những nhóm người được coi là có hành vi nguy cơ thấp. Bên cạnh đó, những nhóm nguy cơ cao gồm gái mại dâm, tiêm chích ma túy và tình dục đồng giới nam hiện nay vẫn rất khó quản lý và can thiệp.

Gia Linh (Thương hiệu và Công luận)