Nghề cơ khí truyền thống tạo việc làm, thu nhập ổn định cho nhiều lao động ở xã Xuân Trường
Nghề cơ khí truyền thống tạo việc làm, thu nhập ổn định cho nhiều lao động ở xã Xuân Trường

Tinh hoa kết tinh từ “đất trăm nghề”

Những ngày cuối năm 2025, về Cụm công nghiệp (CCN) Xuân Tiến, xã Xuân Trường, tỉnh Ninh Bình, dễ dàng cảm nhận được không khí lao động khẩn trương, sôi động của một làng nghề đang vào mùa sản xuất cao điểm. Ngay từ đầu buổi sáng, âm thanh dồn dập của búa nện trên đe sắt, tiếng máy hàn, máy cắt vang lên không ngớt. Bên ngoài các xưởng sản xuất, xe tải lớn nhỏ nối đuôi nhau chờ bốc dỡ hàng hóa, tạo nên một bức tranh lao động nhộn nhịp, đầy sinh khí.

Tại Công ty TNHH Anh Khoa, ông Phạm Anh Khoa – một trong những người thợ cơ khí kỳ cựu của làng nghề vẫn miệt mài bên xưởng máy. Ngoài 60 tuổi, với hơn 40 năm gắn bó cùng nghề, ông Khoa được xem là “cây đại thụ” của làng nghề cơ khí Xuân Tiến. Theo ông Khoa, nghề cơ khí không chỉ đòi hỏi sức khỏe mà còn cần sự sáng tạo, khả năng tư duy kỹ thuật và tính toán chính xác các nguyên lý vận hành máy móc. Nghề nặng nhọc, quanh năm lấm lem dầu mỡ, chịu nhiều tác động không nhỏ đến sức khỏe, nhưng đổi lại là niềm vui, niềm tự hào khó đong đếm.

“Niềm vui lớn nhất của người thợ là khi nghiên cứu, chế tạo thành công một loại máy mới, được khách hàng tin dùng, phản hồi tích cực. Sản phẩm của làng nghề không chỉ có giá thành hợp lý mà còn mang lại hiệu quả sản xuất cao cho người sử dụng”, ông Khoa chia sẻ.

Nhanh nhạy nắm bắt nhu cầu thị trường, theo thời gian, các thợ nghề Xuân Tiến không ngừng mở rộng sản xuất, đa dạng hóa sản phẩm. Từ những mặt hàng cơ khí đơn giản, làng nghề đã phát triển mạnh các sản phẩm đúc, rèn từ nhôm, sắt như phụ tùng xe đạp, đèn măng xông, kèn đồng… Đặc biệt, mỗi giai đoạn phát triển, CCN Xuân Tiến lại có những sản phẩm “chủ lực” được thị trường ưa chuộng. Nếu như những năm 1990, máy tuốt lúa do thợ làng nghề sản xuất từng là niềm tự hào thì hơn một thập kỷ trước, chính những bàn tay tài hoa ấy đã làm chủ công nghệ sản xuất máy gặt đập liên hoàn với sản lượng bình quân từ 5.000 – 6.000 chiếc mỗi năm.

Đến nay, làng nghề cơ khí truyền thống Xuân Tiến đã có bước phát triển vượt bậc với khoảng 30 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trong CCN tập trung và trên 200 hộ gia công, sản xuất tại hộ gia đình. Từ nghề truyền thống, nhiều hộ dân đã vươn lên khá giả, có thu nhập từ vài trăm triệu đến hàng tỷ đồng mỗi năm. Làng nghề còn giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động địa phương và các vùng lân cận, với mức thu nhập bình quân từ 300 – 500 nghìn đồng/người/ngày.

Từ những đôi bàn tay tài hoa, các nhà vườn ở làng nghề cây cảnh Vị Khê, xã Nam Trực đã tạo ra các tác phẩm cây đẹp, thu hút đông người đến thăm quan
Từ những đôi bàn tay tài hoa, các nhà vườn ở làng nghề cây cảnh Vị Khê, xã Nam Trực đã tạo ra các tác phẩm cây cảnh đẹp, thu hút đông người đến thăm quan

Làng nghề – trụ cột kinh tế nông thôn

Sau quá trình sáp nhập, hệ thống làng nghề và nghề nông thôn của tỉnh Ninh Bình được mở rộng cả về quy mô, cơ cấu và phạm vi hoạt động. Theo thống kê sơ bộ, toàn tỉnh Ninh Bình hiện có trên 250 làng nghề, hoạt động đa dạng ở nhiều nhóm ngành như chế biến nông – lâm – thủy sản; sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, dệt may, thêu ren, cơ khí; sinh vật cảnh…

Trải qua hàng trăm năm hình thành và phát triển, các làng nghề không chỉ là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc mà còn lưu giữ những giá trị quý báu về cảnh quan, kiến trúc, di tích lịch sử. Nhiều nghề, làng nghề đã khẳng định được thương hiệu ở tầm quốc gia và quốc tế, với những sản phẩm nổi tiếng như: đá mỹ nghệ Ninh Vân, thêu ren Văn Lâm, gốm Bồ Bát, cói Kim Sơn, đồ gỗ mỹ nghệ La Xuyên, đúc đồng Tống Xá, lụa Nha Xá, mây tre đan Vĩnh Hào…

Đây chính là những “thương hiệu vàng”, góp phần tạo lợi thế cạnh tranh, định vị hình ảnh Ninh Bình như một trung tâm nghề truyền thống giàu bản sắc trên bản đồ Việt Nam. Cùng với đó, nhiều sản phẩm làng nghề đã được đánh giá, phân hạng OCOP, trong đó có những sản phẩm đạt 4 sao, trở thành quà tặng, quà lưu niệm giá trị, được tiêu thụ rộng rãi trên thị trường.

Đáng chú ý, bước đầu đã hình thành một số mô hình du lịch cộng đồng gắn với làng nghề, như mô hình trải nghiệm thêu ren tại Văn Lâm, trải nghiệm gốm tại Bồ Bát, hay các mô hình sinh thái – văn hóa tại khu vực nông thôn. Đây được xem là những “hạt nhân” tiềm năng, mở ra hướng đi mới trong việc kết hợp bảo tồn làng nghề với phát triển du lịch bền vững, góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch của tỉnh Ninh Bình.

Tỉ mẩn, tinh tế trong từng đường kim mũi chỉ, những người thợ thêu Văn Lâm (phường Nam Hoa Lư) đã giữ gìn được tinh hoa và đưa nghề thêu truyền thống của làng ngày càng phát triển
Tỉ mẩn, tinh tế trong từng đường kim mũi chỉ, những người thợ thêu Văn Lâm, phường Nam Hoa Lư đã giữ gìn được tinh hoa và đưa nghề thêu truyền thống của làng ngày càng phát triển

Giữ nghề – giữ sinh kế – giữ bản sắc

Làng nghề thêu ren Văn Lâm (phường Nam Hoa Lư) là một trong những điểm sáng tiêu biểu cho nỗ lực bảo tồn và phát huy giá trị nghề truyền thống. Hình thành từ thế kỷ XIII, nghề thêu Văn Lâm đã trải qua nhiều thăng trầm lịch sử. Năm 2013, làng được công nhận là làng nghề truyền thống; đến năm 2024, nghề thêu Văn Lâm vinh dự được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Theo nghệ nhân Vũ Thanh Luân, Chủ tịch Hiệp hội làng nghề thêu ren Văn Lâm, điểm đặc biệt của thêu Văn Lâm là sự kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật thêu truyền thống Việt Nam với nghệ thuật thêu phương Tây. Mỗi sản phẩm thêu không cần bản vẽ sẵn mà hoàn toàn dựa trên trí tưởng tượng, sự khéo léo và cảm nhận tinh tế của người thợ, được thể hiện qua từng mũi chỉ, đường kim.

Hiện nay, làng nghề có khoảng 700 hộ theo nghề, tạo việc làm thường xuyên cho hàng trăm lao động. Việc thành lập Hiệp hội thêu ren cùng sự tham gia của các doanh nghiệp chuyên ngành đã giúp tăng cường liên kết sản xuất, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm, đồng thời mở ra hướng phát triển bền vững cho làng nghề trong bối cảnh hội nhập.

3/ Làng nghề gốm Bồ Bát (xã Đồng Thái) khẳng định vị thế “ông tổ” nghề gốm với những sản phẩm đẹp, tinh tế, phù hợp với nhu cầu thị trường
Làng nghề gốm Bồ Bát, xã Đồng Thái - khẳng định vị thế “ông tổ” nghề gốm với những sản phẩm gốm đẹp, tinh tế, phù hợp với nhu cầu thị trường

Tạo “cú hích” cho làng nghề vươn xa

Năm 2025, doanh thu từ các làng nghề trên địa bàn tỉnh Ninh Bình ước đạt khoảng 25.393 tỷ đồng, chiếm 13% giá trị sản xuất nông nghiệp – dịch vụ nông thôn. Giá trị xuất khẩu đạt khoảng 1.200 tỷ đồng, tập trung vào các mặt hàng gỗ mỹ nghệ, cói, thêu ren, dược liệu… Thu nhập bình quân của lao động làng nghề dao động từ 4 – 15 triệu đồng/người/tháng, cao hơn nhiều so với lao động thuần nông.

Để mỗi làng nghề thực sự trở thành một “trụ cột” kinh tế, tỉnh Ninh Bình đã và đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp: gắn bảo tồn với phát triển; hỗ trợ ứng dụng khoa học – công nghệ vào sản xuất; xây dựng và quảng bá thương hiệu; thúc đẩy chuyển đổi số, thương mại điện tử; hỗ trợ tiếp cận vốn, mở rộng thị trường; gắn phát triển làng nghề với du lịch và chương trình OCOP.

Cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước, các làng nghề cũng chủ động “tự làm mới mình”, phát huy vai trò của nghệ nhân, thợ giỏi, tăng cường liên kết đa ngành, hướng tới phát triển bền vững.

Với những định hướng đúng đắn và sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, “đất trăm nghề” Ninh Bình đang từng bước khơi dậy tiềm lực nội sinh, khẳng định vị thế là trung tâm bảo tồn và phát triển nghề truyền thống, góp phần quan trọng vào hành trình phát triển kinh tế – văn hóa của tỉnh Ninh Bình trong kỷ nguyên mới.

Hoa Xuân