
Từ nền tảng truyền thống đó, sức mạnh mềm đang chuyển hóa mạnh mẽ, trở thành một thành tố quan trọng của quyền lực quốc gia hiện đại, góp phần nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, sức mạnh mềm không chỉ được phát huy mà còn trực tiếp kiến tạo “thế” và “lực” mới cho đất nước, tạo nền tảng chiến lược để định hình môi trường phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đồng thời, yêu cầu đặt ra là phải kiến tạo, tích hợp và chuyển hóa hiệu quả sức mạnh mềm thành lợi thế chiến lược, phục vụ phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong bối cảnh mới.
Sức mạnh mềm Việt Nam không phải là một khái niệm được vay mượn từ các học thuyết hiện đại, mà là một thực thể lịch sử đã được hun đúc, kiểm nghiệm và thăng hoa trong suốt tiến trình dựng nước và giữ nước, đặc biệt đạt tới đỉnh cao trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở thế kỷ XX. Đó là sự hội tụ độc đáo giữa hệ giá trị quốc gia, bản sắc văn hóa, tinh thần yêu nước, ý chí độc lập và tính chính nghĩa của một dân tộc không chấp nhận bị khuất phục trước bất kỳ hình thái áp đặt nào. Trong những thời khắc mang tính quyết định của lịch sử, khi tương quan vật chất nghiêng hẳn về phía đối phương, chính sức mạnh mềm đã trở thành lực nội sinh làm đảo chiều cục diện, chuyển hóa bất lợi thành ưu thế chiến lược.
Thực tiễn lịch sử đã khẳng định và minh chứng một cách sắc nét. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến thắng không chỉ được quyết định bởi nghệ thuật quân sự, mà còn bởi sức mạnh của ý chí chính trị, tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, sự đồng thuận tuyệt đối giữa Đảng, Quân đội và nhân dân. Hình ảnh hàng vạn dân công hỏa tuyến, những con đường được mở bằng ý chí, những khẩu pháo được kéo bằng sức người qua núi cao, rừng sâu không chỉ là biểu hiện của sức mạnh vật chất, mà là biểu tượng tập trung của sức mạnh mềm Việt Nam ở trình độ cao, lòng dân, niềm tin và chính nghĩa hội tụ thành một sức mạnh có khả năng bẻ gãy mọi tính toán chiến lược của đối phương.
Trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, sức mạnh mềm Việt Nam đạt tới trạng thái phát triển đỉnh cao khi được tích hợp, điều phối và chuyển hóa thành sức mạnh thông minh. Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa ý chí chính trị, nghệ thuật chỉ đạo chiến lược, khả năng tạo lập và nắm bắt thời cơ, cùng với sức mạnh lan tỏa của niềm tin chiến thắng trong toàn xã hội, được kết tinh từ sự cống hiến, hy sinh vô bờ bến, tinh thần quên mình vì độc lập, tự do của cả dân tộc, đồng thời cộng hưởng với sự ủng hộ, sẻ chia và đồng hành của lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới.
Dân công hỏa tuyến trong Chiến dịch Điện Biên Phủ là biểu tượng sinh động của sức mạnh chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.
Chính sự hội tụ giữa nội lực dân tộc và ngoại lực nhân loại tiến bộ đã tạo nên một trường lực chính nghĩa rộng lớn, làm gia tăng sức ép cả về vật chất lẫn tinh thần đối với đối phương. Sức mạnh vô hình ấy không chỉ làm tan rã nhanh chóng hệ thống phòng thủ của đối phương, thúc đẩy quá trình sụp đổ từ bên trong, mà còn tạo điều kiện để những đòn tiến công quân sự mang tính quyết định được triển khai với tốc độ, quy mô và hiệu quả vượt ngoài mọi dự đoán, khép lại một cuộc chiến tranh bằng thắng lợi mang tầm vóc thời đại.
Điều có ý nghĩa vượt ra ngoài khuôn khổ lịch sử là ở chỗ, những thắng lợi đó đã xác lập một mô hình quyền lực đặc thù của Việt Nam, trong đó sức mạnh mềm không chỉ là yếu tố hỗ trợ mà giữ vai trò dẫn dắt, định hình, gia tăng, cộng hưởng sức mạnh tổng hợp quốc gia. Đây chính là nền tảng lý luận và thực tiễn sâu sắc để tiếp tục phát triển sức mạnh mềm Việt Nam trong kỷ nguyên mới, khi cạnh tranh không còn chỉ diễn ra trên chiến trường hữu hình, mà ngày càng quyết liệt trong không gian nhận thức, giá trị và niềm tin.
Trong bối cảnh thế giới chuyển động với tốc độ chưa từng có, cạnh tranh quyền lực gay gắt, ngày càng dịch chuyển từ không gian vật chất sang không gian nhận thức, sức mạnh mềm Việt Nam đang nổi lên như một trục lực mới, gia tăng đồng thời cả về chiều rộng lan tỏa và độ sâu vững chắc. Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở việc Việt Nam đạt được những thành tựu phát triển, mà còn ở cách những thành tựu đó được chuyển hóa thành uy tín, thành niềm tin và thành ảnh hưởng trong môi trường quốc tế đầy biến động. Một quốc gia giữ vững ổn định chính trị trong khi thúc đẩy tăng trưởng kinh tế liên tục, kiểm soát hiệu quả các cú sốc toàn cầu và duy trì quỹ đạo hội nhập chủ động, tự tin, đã tự thân trở thành một hình mẫu có sức hấp dẫn chiến lược.
Uy tín quốc tế của Việt Nam không còn là hệ quả thụ động mà đang được kiến tạo một cách chủ động thông qua vai trò ngày càng nổi bật trong các thể chế đa phương, qua một nền ngoại giao tự chủ, cân bằng, linh hoạt nhưng nhất quán về nguyên tắc. Sự hiện diện đó không chỉ giúp Việt Nam tham gia vào quá trình định hình luật chơi, mà còn góp phần xây dựng hình ảnh một quốc gia có trách nhiệm, đáng tin cậy và có năng lực đóng góp cho các vấn đề toàn cầu. Song song với đó, giá trị văn hóa và con người Việt Nam đang được lan tỏa với cường độ mới, không còn bị giới hạn bởi không gian địa lý mà được khuếch đại qua du lịch, giáo dục, truyền thông và đặc biệt là cộng đồng số đang ngày càng mở rộng.
Đáng chú ý hơn, sự xuất hiện của một không gian quyền lực mới, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trở thành công cụ gia tốc cho sức mạnh mềm. Trong không gian đó, khả năng kể câu chuyện quốc gia, định hình nhận thức và tạo lập niềm tin trở thành yếu tố quyết định. Sức mạnh mềm vì thế không còn đứng sau hỗ trợ, mà đang từng bước dịch chuyển lên vị trí trung tâm, trực tiếp tham gia kiến tạo vị thế quốc gia, mở rộng biên độ ảnh hưởng và tạo lập những lợi thế chiến lược mang tính bền vững trong trật tự thế giới đang tái cấu trúc sâu sắc.
Yêu cầu chiến lược đặt ra trong giai đoạn hiện nay không dừng lại ở việc kế thừa và phát huy các giá trị đã được tích lũy qua lịch sử, mà đòi hỏi một bước chuyển căn bản về tư duy phát triển, trong đó sức mạnh mềm phải được nâng lên thành một trụ cột cấu thành quyền lực quốc gia hiện đại, trực tiếp tham gia kiến tạo “thế" và "lực” trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Trong bối cảnh trật tự thế giới đang biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia ngày càng dịch chuyển sang không gian giá trị, văn hóa, niềm tin và ảnh hưởng, việc chủ động phát triển và vận dụng hiệu quả sức mạnh mềm trở thành yêu cầu mang tính tất yếu và cấp bách.
Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã đặt ra nhiệm vụ chiến lược: “phát huy sức mạnh mềm Việt Nam góp phần tạo “thế" và "lực” mới cho đất nước”[1]. Đây là sự phát triển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng, phản ánh bước chuyển từ nhận thức sức mạnh mềm như một nguồn lực bổ trợ, gián tiếp sang vai trò là một yếu tố cấu thành trực tiếp của năng lực cạnh tranh và vị thế quốc gia trong hệ thống quốc tế.
Trọng tâm chiến lược không còn là phát huy rời rạc các giá trị sẵn có, mà là nâng sức mạnh mềm lên vị trí một cấu phần trung tâm của quyền lực quốc gia, được tích hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh và phát triển, vận hành như một lực đẩy chiến lược tạo “thế” và “lực” mới cho Việt Nam bứt phá vươn lên. Đây là bước chuyển mang tính bản lề, từ trạng thái tích lũy giá trị sang chủ động kiến tạo ảnh hưởng, từ lan tỏa tự phát sang thiết kế chiến lược có định hướng, có tổ chức và có khả năng điều khiển.
Khi sức mạnh mềm được cấu trúc lại ở tầm quốc gia, nó không chỉ nâng cao uy tín mà trực tiếp mở rộng không gian phát triển, định vị lại vị thế Việt Nam trong tương quan quyền lực toàn cầu. Chính trong quá trình đó, năng lực định hình môi trường quốc tế theo hướng có lợi cho đất nước từng bước hình thành, tạo ra thế chủ động chiến lược, gia tăng khả năng dẫn dắt và mở ra quỹ đạo phát triển mới mang tính đột phá trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Xây dựng, phát triển sức mạnh mềm thực sự trở thành lực đẩy chiến lược đưa Việt Nam bứt phá vươn lên, cốt lõi là phải kiến tạo được một hệ nội dung phát triển toàn diện, trong đó các thành tố cấu thành được tích hợp ở tầm quốc gia với chiều sâu lý luận và năng lực lan tỏa toàn cầu. Đặt lên hàng đầu, phải xây dựng và định hình rõ hệ giá trị quốc gia gắn liền với nền tảng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, kết tinh giữa truyền thống lịch sử và tinh hoa nhân loại, làm trục chuẩn định hướng cho toàn bộ quá trình phát triển và lan tỏa ảnh hưởng.
Trên cơ sở đó, tiếp tục hoàn thiện thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa ưu việt, bảo đảm tính chính danh, hiệu lực, hiệu quả và năng lực kiến tạo, qua đó củng cố niềm tin xã hội và gia tăng sức hấp dẫn quốc tế; đồng thời, phát triển nền kinh tế thông minh gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, biến thành tựu phát triển thành nguồn lực ảnh hưởng thực chất. Khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo phải trở thành động cơ trung tâm, tạo ra năng lực cạnh tranh mới và khả năng lan tỏa tri thức trong không gian toàn cầu.
Song hành với đó là xây dựng nền ngoại giao hiện đại, linh hoạt, nhân văn, thực hiện hiệu quả phương châm thêm bạn bớt thù, chủ động tham gia và đóng góp vào các cơ chế an ninh toàn cầu, qua đó khẳng định vai trò một quốc gia có trách nhiệm. Đặc biệt, phát triển nền quốc phòng mang bản chất hòa bình, tự vệ, chính nghĩa không chỉ là trụ cột bảo vệ Tổ quốc mà còn là nguồn sức mạnh mềm có khả năng tạo dựng niềm tin chiến lược. Khi tất cả các thành tố này được tích hợp trong một chỉnh thể thống nhất, được dẫn dắt bằng tư duy chiến lược và vận hành bằng công cụ hiện đại, sức mạnh mềm Việt Nam sẽ thực sự chuyển hóa thành “thế" và "lực” mới, mở ra quỹ đạo phát triển bứt phá và nâng tầm vị thế quốc gia trong trật tự thế giới mới.
Để nâng tầm sức mạnh mềm Việt Nam từ một nguồn lực tiềm năng trở thành động năng chiến lược có khả năng kiến tạo “thế" và "lực” mới cho đất nước, đòi hỏi phải triển khai một hệ giải pháp mang tính tổng thể, đồng bộ và có chiều sâu thực tiễn.
Trước hết, cần hoàn thiện tư duy chiến lược và thể chế quốc gia về sức mạnh mềm theo hướng thống nhất, xuyên suốt từ trung ương đến địa phương, đặt sức mạnh mềm vào vị trí một trụ cột trung tâm của quyền lực quốc gia, được hoạch định, tổ chức và vận hành bằng những cơ chế chính sách rõ ràng, có khả năng điều phối liên ngành và huy động toàn xã hội.
Sức mạnh mềm quốc gia bắt nguồn từ truyền thống văn hóa dựng nước và giữ nước, truyền thống hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam.
Hai là, phải kiến tạo một hệ sinh thái phát triển văn hóa, con người và tri thức với trọng tâm là đổi mới căn bản giáo dục-đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và khơi dậy khát vọng phát triển quốc gia như một động lực tinh thần có sức lan tỏa sâu rộng, biến mỗi cá nhân thành một chủ thể mang năng lực sản sinh và lan tỏa giá trị Việt Nam.
Ba là, cần xây dựng năng lực truyền thông chiến lược quốc gia, làm chủ không gian số, chuyển từ tiếp nhận sang chủ động kiến tạo và dẫn dắt thông tin, đặc biệt thông qua việc ứng dụng mạnh mẽ trí tuệ nhân tạo và công nghệ dữ liệu nhằm định hình hình ảnh quốc gia một cách có hệ thống, nhất quán và có sức cạnh tranh toàn cầu.
Bốn là, đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao, nhất là ngoại giao văn hóa, ngoại giao nhân dân và tham gia chủ động, có trách nhiệm vào các cơ chế đa phương không chỉ nhằm mở rộng quan hệ mà còn để chuyển hóa sức mạnh mềm thành ảnh hưởng thực chất, tạo lập mức độ tin cậy chiến lược và gia tăng vị thế của Việt Nam trong cấu trúc quyền lực quốc tế.
Năm là, phải thiết lập được một cơ chế tích hợp hiệu quả giữa sức mạnh mềm với quốc phòng, an ninh, kinh tế và khoa học công nghệ,... qua đó hình thành mô hình “sức mạnh thông minh Việt Nam” có khả năng thích ứng cao, linh hoạt trước biến động và đủ năng lực cạnh tranh trong môi trường toàn cầu. Khi hệ giải pháp này được triển khai đồng bộ và vận hành ở tầm chiến lược, sức mạnh mềm Việt Nam sẽ không chỉ lan tỏa mà còn chuyển hóa thành thực lực, tạo ra động lực phát triển mạnh mẽ và mở ra quỹ đạo bứt phá cho đất nước trong kỷ nguyên mới.
Sức mạnh mềm Việt Nam, được hun đúc qua lịch sử và đang được xây dựng, phát triển, phát huy, nâng tầm trong kỷ nguyên mới, chính là chìa khóa mở ra quỹ đạo phát triển mang tính bứt phá của dân tộc. Khi được đặt đúng tầm, sức mạnh mềm không chỉ lan tỏa giá trị mà trực tiếp kiến tạo “thế" và "lực” mới, chuyển hóa tiềm năng thành thực lực, uy tín thành quyền lực, bản sắc thành lợi thế cạnh tranh toàn cầu.
Hệ giá trị quốc gia, văn hóa, con người, thể chế chính trị-kinh tế-xã hội, khoa học-công nghệ, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… được tích hợp trong một chỉnh thể chiến lược, tạo nên nền tảng sức mạnh tổng hợp có khả năng thích ứng và dẫn dắt trong trật tự thế giới mới. Đó cũng chính là con đường để Việt Nam bứt phá vươn lên, khẳng định vị thế, bản lĩnh và tầm vóc của một quốc gia hùng cường, tự chủ, tự tin và có sức lan tỏa sâu rộng trong kỷ nguyên phát triển mang tính thời đại.
Theo nhandan.vn
























