Nền kinh tế Việt Nam kết thúc năm 2025 với kết quả ấn tượng, mở ra giai đoạn tăng trưởng chất lượng cao. Theo báo cáo phân tích vĩ mô của Công ty Cổ phần Chứng khoán Yuanta Việt Nam, GDP cả năm 2025 đạt 8,02%, mức cao thứ hai trong giai đoạn 2011-2025.

Quý 4/2025 ghi nhận tăng trưởng GDP đột phá ở mức 8,46%, duy trì đà tăng mạnh qua các quý dù đối mặt với thiên tai và bão lũ. Sự phục hồi của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng 10,6% và lĩnh vực xây dựng tăng 9,2% nhờ đẩy nhanh giải ngân đầu tư hạ tầng đã góp phần quan trọng vào kết quả này.
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) toàn ngành năm 2025 tăng 9,2% so với năm trước, trong đó ngành chế biến, chế tạo dẫn dắt với các nhóm như sản xuất xe có động cơ, sản phẩm từ cao su và plastic, cùng kim loại đều đạt tăng trưởng hai chữ số.
Dữ liệu PMI tháng 12/2025 cho thấy sản lượng tiếp tục tăng, đơn hàng mới mở rộng và niềm tin doanh nghiệp cho năm 2026 được củng cố. Tuy nhiên, chi phí đầu vào tăng nhanh nhất trong ba năm rưỡi, dẫn đến giá bán đầu ra tăng mạnh hơn mức trung bình năm 2025.
Triển vọng lĩnh vực sản xuất năm 2026 tích cực nhờ đầu tư công và cải thiện nội lực, giúp cầu nội địa tăng mạnh để bù đắp biến động nhu cầu bên ngoài cùng căng thẳng thương mại toàn cầu. Lĩnh vực bán lẻ cũng dự kiến tăng trưởng mạnh mẽ nhờ thu nhập cải thiện theo đà kinh tế và các chính sách kích cầu tiêu dùng mở rộng.

Hoạt động thương mại năm 2025 đạt kim ngạch xuất nhập khẩu lớn, với thặng dư khoảng 20 tỷ USD. Dòng vốn FDI giải ngân đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9% so với cùng kỳ, dù vốn đăng ký mới chậm lại do doanh nghiệp thận trọng trước căng thẳng thương mại toàn cầu. Việt Nam vẫn hưởng lợi từ đầu tư vào AI, công nghệ cao và trung tâm dữ liệu.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2025 tăng 3,31%, nằm trong mục tiêu kiểm soát của Chính phủ.
Sang năm 2026, Yuanta dự báo GDP đạt 7,7% nhờ ba yếu tố chính: Đầu tư công quy mô lớn trong hạ tầng giao thông, logistics và năng lượng; kinh tế khu vực tư nhân hồi phục, đóng góp lớn hơn trong chế biến, chế tạo và công nghệ; tiêu dùng nội địa cải thiện nhờ thu nhập tăng, lạm phát kiểm soát tốt và chính sách tài khóa hỗ trợ. Tăng trưởng xuất khẩu có thể chững lại do cầu thế giới, nhưng FDI ổn định, tập trung vào công nghệ cao, năng lượng tái tạo và trung tâm dữ liệu.
Về lãi suất, hai tuần cuối năm 2025 chứng kiến lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh ở hầu hết kỳ hạn. Lãi suất vay 1-2 tuần dao động 6,9-8,6%/năm, kỳ hạn 1-6 tháng quanh 6,7-8,4%/năm, trong khi lãi suất qua đêm giảm còn 1,77%/năm cuối năm, phản ánh căng thẳng thanh khoản cục bộ ở kỳ hạn ngắn.

Lãi suất huy động từ dân cư và doanh nghiệp tăng tại nhiều ngân hàng trong tháng 12/2025. Đến 31/12/2025, lãi suất huy động bình quân của nhóm Big4 (Vietcombank, VietinBank, BIDV, Agribank) tăng 53-57 điểm cơ bản so với cuối năm 2024. Xu hướng này có thể tiếp diễn nửa đầu năm 2026, tạo áp lực tăng lãi suất cho vay.
Dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ hạn chế khi Ngân hàng Nhà nước ưu tiên ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Thanh khoản hệ thống ngân hàng năm 2026 ổn định hơn nhờ các ngân hàng tăng vốn, dòng tiền trú ẩn vào vàng chậm lại, giải ngân đầu tư công tăng mạnh giúp dòng tiền lưu thông tốt hơn, giảm áp lực thanh khoản và hạ nhiệt lãi suất. Việc Kho bạc Nhà nước đề xuất nâng tỷ lệ tiền gửi tạm thời nhàn rỗi tại Big4 từ 50% lên 60%, cùng Nghị quyết 79, sẽ hỗ trợ mở rộng hoạt động và nâng cao năng lực cho vay.
Về ngoại hối, tỷ giá VND/USD năm 2025 mất giá 3,2%, nhưng hạ nhiệt rõ rệt cuối năm, đặc biệt trên thị trường tự do. Năm 2026, rủi ro tỷ giá giảm nhờ dòng vốn ngoại từ nâng hạng thị trường dự kiến tháng 9/2026, dòng tiền trú ẩn vào vàng tăng chậm, thặng dư thương mại và FDI ổn định, Fed cắt giảm lãi suất 1-2 lần. Ngân hàng Nhà nước có thể can thiệp khi cần. Yuanta dự báo VND mất giá 2,4% năm 2026, thấp hơn mức 3,2% năm 2025.
L.T(t/h)
























