Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, nguyên nhân không nằm ở việc thiếu tiềm năng mà chủ yếu do tư duy phát triển, thể chế quản lý và năng lực khai thác chưa theo kịp yêu cầu mới của thời kỳ hội nhập và chuyển đổi kinh tế xanh.

Kinh tế biển vẫn chủ yếu dựa vào khai thác truyền thống

Tại buổi làm việc về Đề án tổng kết Nghị quyết số 36 của Trung ương khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 diễn ra mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã yêu cầu phải nhìn nhận thẳng thắn rằng kinh tế biển Việt Nam chưa phát triển tương xứng với tiềm năng và lợi thế vốn có.

Theo người đứng đầu Đảng và Nhà nước, biển cần được xác định không chỉ là nơi khai thác tài nguyên mà còn là không gian phát triển chiến lược quốc gia, nơi tích hợp lợi ích kinh tế, quốc phòng, an ninh, khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế.

Kinh tế biển được kỳ vọng trở thành động lực tăng trưởng chiến lược của Việt Nam
Kinh tế biển được kỳ vọng trở thành động lực tăng trưởng chiến lược của Việt Nam

Thực tế cho thấy, sau nhiều năm phát triển, mô hình kinh tế biển của Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các ngành có giá trị gia tăng thấp như khai thác hải sản, dầu khí, vận tải truyền thống hay du lịch quy mô nhỏ. Trong khi đó, các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao như logistics biển, năng lượng tái tạo ngoài khơi, công nghiệp biển công nghệ cao hay kinh tế số biển vẫn phát triển chậm.

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới công bố năm 2025, tỷ lệ đóng góp của các ngành kinh tế biển vào tổng giá trị gia tăng quốc gia mới tăng từ khoảng 5,04% lên 5,83% trong suốt một thập kỷ. Đây là mức tăng khá khiêm tốn so với tiềm năng và thấp hơn nhiều quốc gia có điều kiện tương đồng trong khu vực.

Đặc biệt, tỷ trọng việc làm từ các ngành kinh tế biển hiện chỉ chiếm khoảng 8% tổng lao động cả nước. Nếu tiếp tục duy trì mô hình phát triển hiện nay, dự báo đến năm 2030, tỷ lệ đóng góp của kinh tế biển cũng chỉ đạt khoảng 9,65% GDP, thấp hơn mục tiêu 10% mà Nghị quyết 36 đặt ra.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, một trong những nguyên nhân lớn nhất khiến kinh tế biển chưa tạo được đột phá là hệ thống thể chế và chính sách còn nhiều điểm nghẽn.

Hiện nay, các thủ tục liên quan đến đầu tư dự án biển còn phân tán giữa nhiều bộ, ngành và địa phương, dẫn đến chồng chéo, kéo dài thời gian xử lý hồ sơ và làm tăng chi phí của doanh nghiệp. Nhiều nhà đầu tư dù quan tâm đến lĩnh vực điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao hay cảng biển logistics vẫn gặp khó trong tiếp cận không gian biển và thủ tục pháp lý.

Bên cạnh đó, hạ tầng kết nối vùng ven biển còn thiếu đồng bộ. Nhiều địa phương có lợi thế biển nhưng chưa hình thành được chuỗi dịch vụ hậu cần, logistics và công nghiệp hỗ trợ đi kèm để gia tăng giá trị cho các ngành kinh tế biển.

Cần đột phá về thể chế và tư duy phát triển biển

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng cao hơn, việc tái định vị vai trò của kinh tế biển đang được đặt ra cấp thiết.

Theo các chuyên gia, thay vì chỉ tập trung khai thác tài nguyên, Việt Nam cần chuyển mạnh sang mô hình kinh tế biển xanh, phát triển bền vững và dựa trên công nghệ cao. Điều này đồng nghĩa với việc phải thay đổi tư duy quản lý và cách tiếp cận không gian biển.

Một trong những định hướng lớn hiện nay là xây dựng nghị quyết mới về chiến lược phát triển kinh tế biển, với mục tiêu hình thành “quốc gia biển mạnh” trong thế kỷ XXI. Trong đó, biển sẽ được đặt ở vị trí động lực phát triển chiến lược, gắn chặt với đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ và bảo đảm an ninh quốc gia.

Song song với đó, Dự thảo Luật Tài nguyên và Môi trường biển, hải đảo (sửa đổi) cũng đang được xây dựng theo hướng tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và người dân. Tinh thần xuyên suốt của lần sửa đổi này là chuyển từ tư duy “không quản được thì cấm” sang quản lý bằng quy hoạch, dữ liệu số và công nghệ hiện đại.

Theo cơ quan soạn thảo, nhiều quy định mới sẽ được đề xuất nhằm đơn giản hóa thủ tục thuê biển, giảm chi phí tiếp cận mặt nước và tạo điều kiện cho các ngành kinh tế biển mới phát triển mạnh hơn.

Đặc biệt, quy hoạch không gian biển quốc gia sẽ được xây dựng theo hướng đồng bộ và thống nhất nhằm hạn chế tình trạng chồng lấn giữa các ngành, địa phương. Đây được xem là nền tảng quan trọng để hình thành môi trường đầu tư minh bạch và ổn định hơn cho các dự án biển quy mô lớn.

Các chuyên gia cũng cho rằng, muốn tạo đột phá cho kinh tế biển, Việt Nam cần đẩy nhanh ứng dụng khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và chuyển đổi số trong quản trị tài nguyên, giám sát môi trường biển và vận hành các ngành kinh tế biển hiện đại.

Bên cạnh đó, cần hình thành các trung tâm kinh tế biển mạnh gắn với hệ thống cảng nước sâu, logistics quốc tế và các khu công nghiệp ven biển có khả năng cạnh tranh khu vực.

Trong bối cảnh xu hướng phát triển xanh và kinh tế tuần hoàn đang trở thành chuẩn mực toàn cầu, kinh tế biển không chỉ là dư địa tăng trưởng mới mà còn là cơ hội để Việt Nam tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng bền vững hơn.

Nếu tháo gỡ được các rào cản thể chế, tận dụng hiệu quả khoa học công nghệ và xây dựng được chiến lược phát triển biển dài hạn, kinh tế biển hoàn toàn có thể trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng nhất của Việt Nam trong nhiều thập kỷ tới.

Nam Sơn (t/h)