
Dư địa hợp tác giữa ĐBSCL với Trung Quốc còn rất lớn
Ban tổ chức Diễn đàn cho rằng: Đối với doanh nghiệp, Diễn đàn mở ra cơ hội tiếp cận trực tiếp hệ sinh thái doanh nghiệpViệt Nam - Trung Quốc; giới thiệu sản phẩm và giải pháp, tìm kiếm khách hàng, nhà phân phối, nhà đầu tư; đồng thời thiết lập mối quan hệ với các cơ quan quản lý, hiệp hội và tổ chức xúc tiến thương mại.
Đối với TP. Cần Thơ và ĐBSCL, sự kiện góp phần tăng khả năng nhận diện của vùng trên bản đồ đầu tư, thương mại và logistics; quảng bá sản phẩm chủ lực; hỗ trợ mở rộng thị trường xuất khẩu; thu hút nguồn lực cho hạ tầng, công nghệ và chế biến sâu. Quan trọng hơn, các phiên đối thoại và kết nối có thể giúp chuyển lợi thế sản xuất của vùng thành năng lực tham gia chuỗi cung ứng có giá trị gia tăng cao hơn.
Diễn đàn hướng tới mục tiêu tạo lập một không gian hợp tác có chiều sâu, trong đó cơ quan quản lý cung cấp thông tin và định hướng chính sách; hiệp hội hỗ trợ kết nối; doanh nghiệp chủ động xác lập nhu cầu và cơ hội; nhà đầu tư cùng tham gia hình thành các dự án cụ thể. Đây là nền tảng để hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc được thúc đẩy theo hướng thực chất, hiệu quả và bền vững.
Các phiên tham luận tập trung vào những vấn đề có tính thực tiễn đối với ĐBSCL như: Chuẩn hóa vùng sản xuất và nông sản xuất khẩu sang Trung Quốc, số hóa vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, chế biến sâu, logistics, chuyển đổi kép số - xanh, chính sách pháp lý và thuế trong đầu tư, cũng như giải pháp năng lượng mới phục vụ tăng trưởng xanh.

Phát biểu khai mạc Diễn đàn, ông Hứa Trường Sơn, Phó Giám đốc Sở Công Thương TP. Cần Thơ, cho biết: Cần Thơ mong muốn thúc đẩy quan hệ hợp tác theo hướng thực chất, hiệu quả, cùng có lợi và phát triển bền vững. TP. Cần Thơ tập trung kết nối doanh nghiệp, nhà nhập khẩu, nhà phân phối Trung Quốc với doanh nghiệp Cần Thơ, đồng thời mong muốn thu hút các doanh nghiệp, nhà đầu tư Trung Quốc quan tâm, tìm hiểu và hợp tác trong các lĩnh vực logistics, trung tâm phân phối, chế biến sâu nông sản - thủy sản, thương mại điện tử, chuyển đổi số, công nghệ xanh và phát triển bền vững.
“Một Diễn đàn xúc tiến thương mại chỉ thực sự có ý nghĩa khi những kết nối tại Diễn đàn được duy trì và chuyển hóa thành các kết quả hợp tác cụ thể. Vì vậy, Cần Thơ kỳ vọng sau Diễn đàn sẽ có thêm nhiều mối quan hệ hợp tác mới được hình thành, từ kết nối thương mại, trao đổi hàng hóa, ký kết biên bản ghi nhớ, hợp đồng, đơn hàng đến các dự án đầu tư và chương trình hợp tác lâu dài.” Ông Hứa Trường Sơn, Phó giám đốc Sở Công Thương TP. Cần Thơ kỳ vọng.

Phát biểu tại Diễn đàn, ông Hồ Quang Minh - Chủ tịch Hội Net Zero Việt Nam – Châu Á HCM – SME (VANZA), nhận định: “Dư địa hợp tác giữa ĐBSCL và các doanh nghiệp, nhà đầu tư Trung Quốc còn rất lớn. Lợi thế về vùng nguyên liệu và sản lượng hiện không còn là điều kiện duy nhất; thị trường ngày càng đòi hỏi chất lượng, truy xuất nguồn gốc, công nghệ, logistics, môi trường và phát triển bền vững.
Câu chuyện quan trọng nhất hiện nay không phải là chúng ta có gì, mà là chúng ta kết nối những gì đang có như thế nào? Nếu những lợi thế của doanh nghiệp Việt Nam và Trung Quốc được đặt trong cùng một chuỗi giá trị, được quản trị minh bạch và hướng đến tăng trưởng xanh, chúng ta có thể tạo ra những giá trị lớn hơn nhiều so với từng giao dịch riêng lẻ.”
Tại phiên tọa đàm “Kết nối chuỗi giá trị - Mở rộng thị trường- Đón làn sóng đầu tư mới Việt Nam - Trung Quốc tại ĐBSCL”, các đại biểu trao đổi về những điểm nghẽn từ vùng nguyên liệu đến chế biến, bảo quản, logistics và thị trường; đồng thời thảo luận các điều kiện để thu hút dòng vốn đầu tư có chất lượng, tăng cường ứng dụng công nghệ, mở rộng thương mại số và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong vùng.
Theo Ban tổ chức, mục tiêu của Diễn đàn không dừng ở việc tạo thêm một không gian gặp gỡ, mà hướng tới hình thành các mối liên kết có khả năng tiếp tục phát triển sau sự kiện. Trong đó, Cần Thơ được kỳ vọng đóng vai trò điểm hội tụ, kết nối các nguồn lực của ĐBSCL với doanh nghiệp, nhà đầu tư và thị trường quốc tế.
Ông Hồ Quang Minh - Chủ tịch Vanza cho rằng: “Tương lai của ĐBSCL không chỉ nằm ở những gì chúng ta đang có, mà nằm ở khả năng kết nối và nâng cao giá trị những gì chúng ta đang có.”
Đây là tinh thần xuyên suốt của Diễn đàn: Thúc đẩy hợp tác từ giao thương đơn thuần sang liên kết chuỗi, đầu tư, công nghệ và cùng phát triển thị trường theo hướng xanh, minh bạch và bền vững.
Thị trường động lực nông thủy sản và rau quả
Chia sẻ với Diễn đàn, ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, cho biết: “ĐBSCL từ lâu được mệnh danh là vựa nông sản, trái cây trù phú bậc nhất cả nước, đóng góp phần lớn sản lượng lúa gạo, thủy sản và đặc biệt là nguồn trái cây nhiệt đới phục vụ tiêu dùng nội địa lẫn xuất khẩu. Trong những năm gần đây, quan hệ thương mại nông sản Việt Nam - Trung Quốc đã có những bước chuyển biến mang tính bước ngoặt. Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ số 1 của ngành rau quả Việt Nam (chiếm tới 65 - 70% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành).

Tuy nhiên, bối cảnh thương mại song phương hiện nay đã hoàn toàn thay đổi. Thị trường Trung Quốc không còn là thị trường "dễ tính" hay chuộng hàng tiểu ngạch như quan niệm trước đây. Ngược lại, Trung Quốc đang ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm dịch thực vật, dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật, đồng thời đặt ra các tiêu chuẩn rất cao về phát triển xanh, giảm phát thải carbon và khả năng truy xuất nguồn gốc minh bạch…”
Song, theo ông Đặng Phúc Nguyên, đây không phải là “điểm nghẽn” mà là động lực để ĐBSCL phát triển nông thủy sản và rau quả. Thị trường Trung Quốc đang chuyển mình theo xu hướng xanh và tiêu chuẩn chất lượng cao. Đây không phải là rào cản, mà chính là động lực to lớn để ngành nông sản ĐBSCL tái cấu trúc toàn diện, nâng tầm giá trị và khẳng định vị thế.
Theo ông Đặng Phúc Nguyên, ĐBSCL muốn xuất khẩu nông thủy sản và rau quả sang Trung Quốc-một thị trường rộng lớn thì phải tái cơ cấu và quy hoạch vùng trồng chuyên canh theo tín hiệu thị trường.
ĐBSCL cần tích hợp dữ liệu số hóa đất đai, nguồn nước và khí hậu để quy hoạch các vùng trồng tập trung cho các loại trái cây thế mạnh xuất khẩu sang Trung Quốc như: sầu riêng, thanh long, xoài, mít, chuối, chanh leo, bưởi, chanh không hạt...
Chấm dứt tình trạng phát triển tự phát ồ ạt, chuyển đổi ồ ạt ngoài quy hoạch dẫn đến rủi ro về chất lượng và cung vượt cầu. Quản lý mã số vùng trồng (MSVT) theo thời gian thực bằng ứng dụng số (GIS, nhật ký điện tử), bảo đảm không xảy ra tình trạng mượn mã số, gian lận xuất xứ làm ảnh hưởng đến uy tín nông sản quốc gia.
Chuyển mạnh sang mô hình canh tác hữu cơ, tuần hoàn, ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM). Tận dụng phụ phẩm nông nghiệp làm phân bón hữu cơ, giảm thiểu tối đa phát thải khí nhà kính (phù hợp với định hướng giảm phát thải của Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao và chuyển đổi cây ăn trái của vùng). Cần Thơ và các địa phương cần đẩy mạnh xây dựng các mô hình chuỗi cung ứng nông sản đạt chuẩn Net Zero, tạo lập lợi thế cạnh tranh riêng biệt cho hàng hóa ĐBSCL khi tiến sâu vào thị trường Trung Quốc.
Chuẩn hóa các cơ sở đóng gói (CSĐG) đáp ứng tiêu chuẩn xử lý sau thu hoạch, kiểm soát chặt chẽ nhiệt độ kho lạnh, vật liệu đóng gói và quy trình hun trùng, chiếu xạ, rửa sạch theo quy chuẩn phía Trung Quốc yêu cầu.
Để giải quyết bài toán “được mùa mất giá” cần nâng cao chất lượng chế biến. Vì hiện nay, tỷ lệ rau quả tươi xuất khẩu của Việt Nam hiện vẫn chiếm trên 70%, trong khi tỷ lệ chế biến sâu chỉ chiếm khoảng 30%. Đây là điểm nghẽn lớn khiến nông sản ĐBSCL dễ bị tổn thương trước những biến động thời tiết, dịch bệnh hay thời gian thông quan tại các cửa khẩu đường bộ kéo dài.
“Để giải quyết căn cơ, chúng tôi kiến nghị: Thu hút FDI và liên doanh đầu tư hạ tầng chế biến sâu tại ĐBSCL. Cần Thơ với vai trò hạt nhân trung tâm của vùng cần đẩy nhanh tiến độ đưa vào vận hành Trung tâm liên kết, sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp vùng ĐBSCL. Khuyến khích doanh nghiệp hai nước Việt - Trung thành lập các liên doanh chế biến các dòng sản phẩm có giá trị gia tăng cao:cấp đông trái cây nguyên trái hay tách thịt quả, trái cây sấy thăng hoa, nước ép trái cây cô đặc, đồ hộp bột dinh dưỡng, tinh dầu từ vỏ nông sản...
Rau quả là mặt hàng nhạy cảm với nhiệt độ và thời gian. Cần đầu tư đồng bộ hệ thống kho lạnh trung chuyển tại Cần Thơ, kết nối xuất khẩu với Cảng Cái Mép ( Thị Vải) TP. Hồ Chí Minh, trong tương lai không xa sẽ thông qua kênh đào Bình Lục (Pinglu Canal) dài 134 km, kết nối thẳng tới hệ thống cảng ở Nam Ninh, Quảng Tây- Trung Quốc sau khi đi qua Vịnh Bắc Bộ và vận tải hàng không chuyên dụng (Air Cargo) từ Cảng Hàng không Quốc tế Cần Thơ đi thẳng các đô thị lớn của Trung Quốc như Quảng Châu, Thượng Hải, Bắc Kinh…
Việc định hình thành công "Bản đồ sản xuất xanh", kết hợp với năng lực chế biến sâu và chuỗi cung ứng thông minh, sẽ biến tiềm năng nông sản ĐBSCL thành sức mạnh kinh tế thực sự, đưa quan hệ hợp tác thương mại nông sản Việt Nam - Trung Quốc phát triển lên tầm cao mới: Bền vững hơn - Giá trị hơn - Thịnh vượng hơn…” - ông Đặng Phúc Nguyên chia sẻ.

Theo Nguyễn Đình Mười, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Vina T&T với nhiều kinh nghiệm xuất khẩu nông thủy sản, cho biết để xuất khẩu được hàng hóa nông sản: Phải số hóa vùng trồng, chuẩn hóa cơ sở đóng gói, nâng cao năng lực cạnh tranh. Triển khai áp dụng công nghệ số, sử dụng bản đồ số (GIS), mã QR và nhật ký sản xuất điện tử cho từng trang trại/hợp tác xã. Việc này giúp minh bạch thông tin canh tác từ phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đến mốc thời gian thu hoạch. Quản lý quy trình sản xuất tuân thủ nghiêm ngặt theo các Nghị định thư đã ký kết với Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC), đảm bảo đáp ứng đầy đủ các tiêu chí kỹ thuật ngay từ khâu chăm sóc. Đẩy mạnh kiểm tra, giám sát định kỳ và ứng dụng công nghệ để chống gian lận, mạo danh mã số vùng trồng - bảo vệ uy tín thương hiệu trái cây Việt Nam trên thị trường quốc tế.
“Số hóa vùng trồng và chuẩn hóa cơ sở đóng gói không phải là rào cản, mà chính là tấm hộ chiếu quyền lực giúp trái cây Việt Nam khẳng định vị thế và tự tin cạnh tranh bình đẳng tại thị trường Trung Quốc cũng như các thị trường khác như Mỹ, EU, Nhật, Hàn Quốc, Úc, Trung Đông…
Là một trong những doanh nghiệp xuất khẩu trái cây hàng đầu, Vina T&T Group cam kết sẽ tiếp tục đồng hành cùng cơ quan quản lý, các địa phương và bà con nông dân trong việc chuẩn hóa chuỗi giá trị, góp phần đưa thương mại nông sản Việt Nam xuất khẩu đi các nước trên thế giới, phát triển ngày càng hiệu quả, bền vững và nâng lên một tầm cao mới…” Ông Nguyễn Đình Mười, nói.
Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục tái cấu trúc, quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam- Trung Quốc ngày càng phát triển, nhất là trên các lĩnh vực sản xuất, nông nghiệp công nghệ cao, thương mại điện tử gắn với chuyển đổi số. Đây vừa là cơ hội mở rộng thị trường, vừa đặt ra yêu cầu mới về chất lượng hàng hóa, hệ thống logistics và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực.
Huỳnh Biển























