Không chỉ biết hàng hóa đến từ đâu

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng vừa ký Nghị định số 372/2026/NĐ-CP ngày 29/9/2026, quy định về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa trên môi trường số. Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/1/2027.

Điểm đáng chú ý là Nhà nước sẽ hình thành Nền tảng quốc gia và Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa. Thay vì thông tin nguồn gốc nằm rải rác trong hồ sơ của từng doanh nghiệp, cơ quan hoặc khâu trong chuỗi cung ứng, dữ liệu sẽ từng bước được kết nối, xác thực và lưu vết trên một hệ thống thống nhất.

Theo Nghị định, sản phẩm có thể được định danh theo lô, mẻ hoặc đến từng đơn vị, tùy mức độ rủi ro. Với nhóm hàng rủi ro cao, việc định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc là bắt buộc theo danh mục và lộ trình do bộ quản lý ngành, lĩnh vực quyết định. Hàng hóa rủi ro trung bình và thấp được khuyến khích thực hiện tự nguyện.

Dữ liệu định danh và truy xuất nguồn gốc được kỳ vọng giúp tăng khả năng xác minh hàng hóa trong toàn bộ chuỗi cung ứng.
Dữ liệu định danh và truy xuất nguồn gốc được kỳ vọng giúp tăng khả năng xác minh hàng hóa trong toàn bộ chuỗi cung ứng.

Đáng chú ý, hoạt động truy xuất được thực hiện thông qua mã UID trên Nền tảng quốc gia. Các sự kiện quan trọng trong quá trình sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu, lưu thông và tiêu dùng có thể được ghi nhận bằng chứng chỉ số.

Cách tiếp cận này có thể thay đổi cách kiểm tra nguồn gốc hàng hóa. Khi cần xác minh, cơ quan quản lý không chỉ dựa vào một bộ hồ sơ được doanh nghiệp cung cấp, mà có thể đối chiếu các dữ liệu đã được ghi nhận tại những thời điểm khác nhau trong chuỗi.

Giảm phụ thuộc vào giấy tờ, tăng khả năng xác minh

Một điểm mới khác là các chứng nhận gắn với sản phẩm, hàng hóa sẽ từng bước được đưa vào môi trường số. Với nhóm hàng rủi ro cao, chứng nhận chất lượng, xuất xứ, hợp quy, hợp chuẩn và các giấy tờ liên quan sẽ được số hóa, xác thực, kết nối và đồng bộ với Nền tảng quốc gia theo lộ trình.

Các chứng chỉ số sau khi được khởi tạo trên Nền tảng quốc gia có giá trị sử dụng như bản chính. Điều này mở ra khả năng giảm sự phụ thuộc vào hồ sơ giấy, đồng thời giúp các chủ thể trong chuỗi cung ứng có thể kiểm tra thông tin nhanh hơn.

Tuy nhiên, chuyển sang quản lý bằng dữ liệu cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với doanh nghiệp. Thông tin về sản phẩm không chỉ cần đầy đủ mà còn phải chính xác, nhất quán và có khả năng xác minh. Với những ngành hàng rủi ro cao, việc ghi nhận các sự kiện trọng yếu sẽ trở thành một phần của quá trình quản lý sản phẩm.

Nghị định đồng thời yêu cầu việc triển khai phải phù hợp với năng lực doanh nghiệp và đặc thù từng ngành hàng. Đây là điều kiện quan trọng để truy xuất nguồn gốc không biến thành thêm một lớp thủ tục, mà thực sự trở thành công cụ hỗ trợ quản lý.

Với hàng xuất khẩu, việc định danh và truy xuất được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành quy định khác. Nhà nước khuyến khích doanh nghiệp áp dụng để đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu.

Khi Nghị định 372 có hiệu lực từ đầu năm 2027, giá trị của truy xuất nguồn gốc sẽ không chỉ nằm ở khả năng trả lời “hàng hóa được sản xuất ở đâu”, mà còn ở việc tạo ra một chuỗi dữ liệu có thể kiểm chứng. Đây có thể trở thành nền tảng để nâng độ minh bạch của hàng hóa và tăng khả năng kiểm soát khi sản phẩm đi qua ngày càng nhiều khâu trong chuỗi cung ứng.

Nam Sơn (t/h)