Không chỉ cần nhà máy, cần cả hệ sinh thái phía sau

Trong cuộc đua thu hút công nghiệp bán dẫn, lợi thế về hạ tầng có thể giúp một địa phương tiếp cận nhà đầu tư, nhưng chưa đủ để tạo vị trí trong chuỗi giá trị.

Quảng Ninh đang có một số điều kiện thuận lợi khi sở hữu hệ thống khu công nghiệp, khu kinh tế ven biển và kết nối giao thông tương đối đồng bộ. Khu kinh tế Quảng Yên, Móng Cái cùng các khu công nghiệp Bắc Tiền Phong và Sông Khoai đang được định hướng trở thành không gian tiếp nhận các dự án công nghệ cao.

Địa phương cũng đặt mục tiêu phát triển hạ tầng năng lượng, trong đó có điện khí LNG và tiềm năng điện gió ngoài khơi. Đây là những yếu tố quan trọng đối với các ngành sản xuất công nghệ cao và những lĩnh vực sử dụng lượng điện lớn.

Quảng Ninh đang chuẩn bị hạ tầng và nguồn nhân lực để thu hút các dự án bán dẫn, điện tử và công nghệ cao, hướng tới hình thành hệ sinh thái sản xuất công nghệ tại địa phương.
Quảng Ninh đang chuẩn bị hạ tầng và nguồn nhân lực để thu hút các dự án bán dẫn, điện tử và công nghệ cao, hướng tới hình thành hệ sinh thái sản xuất công nghệ tại địa phương.

Nền tảng công nghiệp hiện hữu cũng tạo thêm lợi thế. Quảng Ninh đã thu hút các doanh nghiệp như Foxconn, Jinko Solar, Lite-On Technology, Autoliv, Yaskawa Electric Corporation, Mutek Technology Company Limited Vietnam... Sự hiện diện của nhóm doanh nghiệp này tạo ra kinh nghiệm về sản xuất điện tử, thiết bị, tự động hóa và công nghiệp hỗ trợ.

Tuy nhiên, từ một hệ thống sản xuất điện tử đến một hệ sinh thái bán dẫn vẫn là khoảng cách đáng kể. Chuỗi giá trị bán dẫn đòi hỏi các doanh nghiệp thiết kế, sản xuất, đóng gói, kiểm thử, cung ứng thiết bị, vật liệu và dịch vụ kỹ thuật chuyên biệt cùng tồn tại và liên kết với nhau.

Bởi vậy, định hướng của Quảng Ninh không dừng ở việc tìm kiếm một nhà máy lớn. Tỉnh xác định khu công nghệ số tập trung tại phường Tuần Châu làm hạt nhân cho hoạt động thu hút đầu tư, nghiên cứu và đào tạo; đồng thời hướng tới xây dựng hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ và không gian hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

Giai đoạn 2027-2030, địa phương đặt mục tiêu thu hút ít nhất một dự án bán dẫn hoặc sản xuất sản phẩm phụ trợ trực tiếp cho ngành này, đồng thời hỗ trợ 3-5 dự án, doanh nghiệp đủ điều kiện tiếp cận chính sách.

Những mục tiêu này cho thấy cách tiếp cận đang được mở rộng: thay vì chỉ tính số nhà máy được đưa về, Quảng Ninh bắt đầu đặt vấn đề xây dựng các mắt xích có thể bổ trợ cho nhau.

Bài toán khó hơn nằm ở nguồn nhân lực

Nếu hạ tầng là điều kiện để nhà đầu tư đặt chân đến, nhân lực lại là yếu tố quyết định khả năng vận hành và mở rộng dự án.

Theo số liệu được địa phương đưa ra, Quảng Ninh có khoảng 685.000 lao động, nhưng số sinh viên theo học các ngành gần với bán dẫn chỉ khoảng 1.000 người. Trong khoảng 6.000 lao động tại các khu công nghiệp thuộc lĩnh vực điện tử, bán dẫn, chỉ 17% có trình độ cao đẳng, đại học trở lên.

Khoảng cách này càng đáng chú ý khi nhu cầu nhân lực được dự báo tăng nhanh. Đến năm 2030, địa phương dự kiến cần khoảng 315 kỹ sư thiết kế, 750 kỹ thuật viên trình độ cao đẳng phục vụ vận hành sản xuất, hơn 12.000 nhân lực kỹ thuật cho đóng gói, kiểm thử và khoảng 1.000 chuyên gia AI, khoa học dữ liệu.

Những con số trên cho thấy bài toán bán dẫn của Quảng Ninh không chỉ là đào tạo thêm lao động, mà là thay đổi cơ cấu kỹ năng của lực lượng lao động công nghiệp.

Các chương trình đào tạo vì vậy được định hướng gắn trực tiếp hơn với nhu cầu doanh nghiệp, từ sản xuất điện tử, đóng gói, kiểm thử đến vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị, dây chuyền. Giáo dục STEM, nghiên cứu khoa học và hướng nghiệp công nghệ cũng được đưa vào quá trình chuẩn bị nguồn nhân lực từ sớm.

UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 40/KH-UBND ngày 7/2/2025 về phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2050. HĐND tỉnh cũng ban hành Nghị quyết số 57/2025/NQ-HĐND ngày 17/7/2025 về thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Với Quảng Ninh, bước đi vào bán dẫn vì thế đang đặt ra một yêu cầu rộng hơn thu hút đầu tư. Đó là khả năng biến lợi thế về đất đai, giao thông, năng lượng và nền tảng sản xuất hiện có thành một hệ sinh thái đủ chiều sâu.

Nếu giải được bài toán nhân lực và doanh nghiệp hỗ trợ, những dự án công nghệ cao không chỉ tạo thêm nhà máy mà còn có thể kéo theo nghiên cứu, dịch vụ kỹ thuật, đào tạo và các doanh nghiệp cung ứng mới. Khi đó, mục tiêu tham gia ngành bán dẫn mới có cơ sở để chuyển từ câu chuyện thu hút dự án sang hình thành năng lực công nghiệp tại chỗ.

Minh Thành (t/h)