Theo đó, kế hoạch hướng đến mục tiêu nâng cao tình trạng SKSS, SKTD cho VTN, TN thành phố Bắc Ninh thông qua việc bảo đảm nguồn lực tài chính bền vững tại địa phương; mở rộng tiếp cận dịch vụ y tế thân thiện, chất lượng; thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý; đồng thời tăng cường truyền thông, giáo dục giới tính, trang bị kiến thức và kỹ năng giúp thay đổi hành vi về chăm sóc SKSS, SKTD, góp phần nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực, đưa VTN, TN trở thành một lực lượng lao động khỏe mạnh, đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của thành phố Bắc Ninh.

Cụ thể, đến năm 2030, thành phố phấn đấu 85% VTN, TN từ 15-24 tuổi có hiểu biết đúng và đầy đủ về dự phòng mang thai ngoài ý muốn và các bệnh lây truyền qua đường tình dục. 100% trường THCS, THPT và cơ sở giáo dục nghề nghiệp đưa nội dung giáo dục giới tính, SKSS, SKTD vào chương trình chính khóa, ngoại khóa; 100% Trạm Y tế xã, phường triển khai truyền thông, tư vấn về chăm sóc SKSS, SKTD cho VTN, TN trong kế hoạch hằng năm.
Thành phố cũng đặt mục tiêu 50% cơ sở y tế công lập từ cấp cơ bản trở lên triển khai dịch vụ chăm sóc SKSS, SKTD đạt tiêu chuẩn thân thiện với VTN, TN; 60% doanh nghiệp có quy mô trên 2.000 lao động trong các khu công nghiệp triển khai tư vấn hoặc cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS, SKTD cho thanh niên công nhân; đáp ứng 80% nhu cầu về các biện pháp tránh thai hiện đại cho phụ nữ từ 15-24 tuổi.
Đáng chú ý, Kế hoạch đặt mục tiêu giảm tỷ suất sinh ở nhóm vị thành niên 15-19 tuổi xuống dưới 18 trẻ đẻ sống/1.000 phụ nữ cùng nhóm tuổi; giảm tỷ lệ phá thai ở vị thành niên trên tổng số ca phá thai xuống dưới 1% vào năm 2030.
Để thực hiện các mục tiêu trên, thành phố tập trung đồng thời vào truyền thông, giáo dục thay đổi hành vi và nâng cao chất lượng dịch vụ. Nội dung tuyên truyền chú trọng tình dục an toàn, phòng tránh mang thai ngoài ý muốn, sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, phòng ngừa nhiễm khuẩn đường sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục, phòng chống xâm hại tình dục, bạo lực giới, tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống; đồng thời cung cấp thông tin về các cơ sở dịch vụ chăm sóc SKSS, SKTD và tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn.
Cùng với truyền thông trực tiếp tại trường học, cộng đồng và khu công nghiệp, thành phố định hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong cung cấp thông tin và tư vấn. Các nền tảng số được nghiên cứu, triển khai phù hợp để cung cấp thông tin chính xác, tư vấn ẩn danh và kết nối, tra cứu các cơ sở cung cấp dịch vụ thân thiện; đồng thời bảo đảm an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân, góp phần giảm tâm lý e ngại của VTN, TN khi tìm kiếm thông tin và sử dụng dịch vụ.
Trong lĩnh vực y tế, các cơ sở công lập từ cấp cơ bản trở lên được định hướng củng cố cơ sở vật chất, thiết bị, phân luồng và bố trí không gian phù hợp nhằm bảo đảm tính riêng tư, bảo mật trong tiếp nhận, tư vấn, khám và cung cấp dịch vụ. Tại Trạm Y tế xã, phường, triển khai mô hình “Góc dịch vụ thân thiện với VTN, TN”, tập trung vào thái độ phục vụ, quy trình bảo mật và tư vấn không phán xét.
Tại trường học, thành phố triển khai giáo dục giới tính toàn diện phù hợp với lứa tuổi; lồng ghép kiến thức, kỹ năng về SKSS, SKTD, kỹ năng tự bảo vệ, phòng tránh xâm hại tình dục và bạo lực trên cơ sở giới trong các hoạt động giáo dục, sinh hoạt tập thể, ngoại khóa. Đối với trường phổ thông dân tộc nội trú, phấn đấu đến năm 2030 có ít nhất 50% trường triển khai mô hình góc truyền thông về chăm sóc sức khỏe sinh sản cho VTN, TN.
Tại các khu công nghiệp, thành phố lựa chọn các doanh nghiệp có quy mô trên 2.000 lao động để triển khai góc hoặc phòng tư vấn, cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS, SKTD cho thanh niên công nhân; tăng cường truyền thông trực tiếp kết hợp cung cấp dịch vụ, chú trọng nhóm lao động trẻ, lao động di cư.
Kế hoạch được triển khai trên toàn địa bàn thành phố trong giai đoạn 2026-2030, với sự phối hợp của ngành Y tế, Giáo dục và Đào tạo, các cơ quan, đơn vị, địa phương, tổ chức đoàn thể và doanh nghiệp. Trong đó, ngành Y tế là đầu mối chủ trì, hướng dẫn chuyên môn, điều phối, kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện; UBND các xã, phường có trách nhiệm xây dựng kế hoạch triển khai tại địa phương, huy động nguồn lực, chỉ đạo Trạm Y tế thực hiện truyền thông, tư vấn và cung cấp dịch vụ phù hợp.
Thông qua việc kết hợp giữa giáo dục, truyền thông thay đổi hành vi, mở rộng dịch vụ thân thiện và tăng cường phối hợp liên ngành, Kế hoạch hướng tới tạo môi trường thuận lợi để VTN, TN chủ động tiếp cận thông tin, kỹ năng và dịch vụ chăm sóc SKSS, SKTD, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực trên địa bàn./.
Bá Đoàn






















