Tàu đánh bắt thủy hải sản neo đậu tại cảng Trần Đề
Tàu đánh bắt thủy hải sản neo đậu tại cảng Trần Đề

Tàu cá không thiết bị giám sát hành trình (VMS) đối mặt nhiều thách thức khó khăn

Đồng thời, HĐND TP. Cần Thơ ban hành Nghị quyết số 06/2026/NQ-HĐND quy  định chính sách hỗ trợ cước phí thuê bao vệ tinh thiết bị giám sát hành trình tàu cá (VMS) trên địa bàn thành phố Cần Thơ, có hiệu lực từ 1/5/2026.

Theo HĐND TP. Cần Thơ, việc lắp đặt, duy trì hoạt động thiết bị giám sát trên tàu cá là quy định mới, mang tính công nghệ cao, là giải pháp kỹ thuật quan trọng nhất hiện nay, nhằm kiểm soát tàu cá hoạt động trên biển. Để thực hiện quy định, ngư dân ngoài việc đầu tư khoản kinh phí khá lớn để mua thiết bị, thì chủ tàu còn phải trả phí thuê bao hàng tháng để duy trì hoạt động thiết bị giám sát hành trình tàu cá (VMS). Mặt khác, hiện nay hoạt động khai thác thủy sản trên biển không còn thuận lợi như trước đây, nhất là vấn đề nguồn lợi thủy sản suy giảm trên tất cả các ngư
trường; chi phí đầu vào chủ yếu là nhiên liệu luôn biến động ở mức cao; thời tiết biển ngày càng cực đoan, rủi ro xảy ra nhiều hơn; khan hiếm về người lao động (thuyền viên) trực tiếp làm việc trên tàu cá hoạt động trên biển; khai thác thủy sản trên biển trở thành một trong những nghề rất nguy hiểm, có tính rủi ro cao và đang ngày càng có ít người tham gia.

Việc ban hành chính sách hỗ trợ VMS nhằm tạo điều kiện thuận lợi để ngành chức năng tiếp cận trực tiếp chủ tàu giúp cho công tác tuyên truyền, vận động ngư dân nhận thức rõ và chấp hành tốt quy định của nhà nước về chống khai thác bất hợp
pháp, không báo cáo, không theo quy định (khai thác IUU); đồng thời, góp phần giúp nâng cao nhận thức của ngư dân trong việc chấp hành quy định của nhà nước về chống khai thác IUU, nhất là quản lý, sử dụng tốt thiết bị giám sát, duy trì hoạt động của thiết bị lắp đặt trên tàu, giúp chủ tàu kiểm soát được hoạt động trên biển; qua đó, giúp cơ quan giám sát thực hiện tốt nhiệm vụ giám sát tàu cá hoạt động trên biển.

Tàu cá không duy trì thiết bị giám sát hành trình (VMS) theo quy định có nguy cơ vi phạm quy định chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định (khai thác IUU); đặc biệt, là các quy định bắt buộc lắp đặt và duy trì hoạt động VMS đối với tàu cá theo Luật Thủy sản. Tàu cá không duy trì cước phí dẫn đến không tín hiệu giám sát có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, đình chỉ hoạt động khai thác, thu hồi giấy phép khai thác thủy sản, làm gián đoạn sinh kế đến chủ tàu cá, ngư dân; làm gia tăng nguy cơ tàu cá không tuân thủ về khai thác IUU trên địa bàn TP. Cần Thơ.

Việc không duy trì VMS có thể khiến tàu cá bị kiểm tra, giám sát chặt chẽ hơn hoặc bị buộc dừng khai thác. Thời gian tàu nằm bờ kéo dài làm tăng chi phí cố định (khấu hao tàu, chi phí bảo dưỡng, chi phí lao động), trong khi không tạo ra sản phẩm, dẫn đến giảm hiệu quả kinh tế của chuyến biển.

Trường hợp tai nạn, sự cố, thiên tai trên biển nếu không duy trì VMS liên tục làm giảm khả năng theo dõi, giám sát tàu cá hoạt động, cảnh báo và hỗ trợ không kịp thời khu vực nguy hiểm hoặc điều kiện thời tiết không phù hợp, giảm khả năng liên lạc, hỗ trợ điều phối trong các tình huống khẩn cấp. Từ đó, ngư dân đối mặt các rủi ro đáng tiếc mất an toàn tính mạng, tài sản, ngư lưới cụ; đồng thời, khó xác định vị trí để các lực lượng chức năng ứng cứu, cứu nạn, cứu hộ kịp thời khi gặp sự cố.

Các trường hợp tàu cá không duy trì VMS dễ bị nhìn nhận là không chấp hành quy định pháp luật, làm ảnh hưởng đến hình ảnh chung của ngư dân địa phương, gây khó khăn trong việc xây dựng cộng đồng nghề cá văn minh, có trách nhiệm và bền vững.
Trong bối cảnh yêu cầu truy xuất nguồn gốc và chống khai thác IUU ngày càng nghiêm ngặt, ngư dân không duy trì VMS có nguy cơ không tiêu thụ được sản phẩm qua các kênh chính thức, bị thương lái ép giá hoặc bị từ chối thu mua, làm giảm giá trị sản phẩm khai thác.

Nếu tình trạng không duy trì VMS kéo dài, tiềm ẩn nhiều rủi ro và làm suy giảm tính bền vững của nghề cá, ảnh hưởng đến an sinh xã hội tại địa phương ven biển trên địa bàn TP. Cần Thơ. Đối với chủ tàu cá, ngư dân không duy trì thiết bị giám sát hành trình tàu cá (VMS) theo quy định không chỉ gây thiệt hại trực tiếp về kinh tế, pháp lý và an toàn cho ngư dân mà còn kéo theo nhiều hệ lụy xã hội và lâu dài đối với sinh kế, quyền lợi và sự phát triển bền vững của cộng đồng ngư dân ven biển.

Để tháo gỡ khó khăn cho ngư dân, HĐND TP. Cần Thơ ban hành Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ cước phí thuê bao vệ tinh thiết bị giám sát hành trình tàu cá (VMS) trên địa bàn TP. Cần Thơ. Theo đó, tổ chức, cá nhân có tàu cá đăng ký trên địa bàn TP. Cần Thơ, có chiều dài lớn nhất (Lmax) từ 15 mét trở lên; các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, cá nhân có liên quan trên địa bàn TP. Cần Thơ thự hiện Nghị quyết này.

Cụ thế, hỗ trợ chủ tàu cá cước phí thuê bao vệ tinh thiết bị giám sát hành trình tàu cá (VMS) trong thời hạn 03 năm (36 tháng) kể từ ngày Nghị quyết có hiệu lực thi hành. Mỗi tàu cá được hỗ trợ cước phí thuê bao vệ tinh thiết bị giám sát hành trình theo hóa đơn thực tế nhưng tối đa không quá 300.000 đồng/tháng/01 tàu cá. Mỗi tàu cá nhận tiền hỗ trợ 01 lần/năm tiền cước phí thuê bao vệ tinh thiết bị giám sát hành trình lắp trên tàu cá. Tàu cá có chiều dài lớn nhất (Lmax) từ 15 mét trở lên lên đăng ký tại TP. Cần Thơ, đã lắp đặt thiết bị giám sát hành trình theo quy định.

Tàu cá TP. Cần Thơ
Tàu cá TP. Cần Thơ

Hỗ trợ chuyển đổi nghề với tàu không hoạt động khai thác thủy hải sản…

Hiện nay trên địa bàn thành phố Cần Thơ đang có tổng số 785 tàu cá đăng ký, trong đó có 341 tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15 mét trở lên khai thác vùng khơi, 112 tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 12 mét đến dưới 15 mét khai thác vùng lộng, 332 tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 6 đến dưới 12 mét khai thác vùng ven bờ, không có tàu cá đăng ký khai thác vùng nội địa. Với đội tàu khai thác như hiện nay đã tạo áp lực khai thác lên nguồn lợi, ảnh hưởng đến sự phục hồi và phát triển của các loài thủy sản.

Nguồn lợi thủy sản ở các vùng biển đang có dấu hiệu bị khai thác quá mức, năng suất khai thác thấp, hiệu quả kinh tế giảm, các nơi trú ẩn, bãi đẻ ... của một số loài bị khai thác cạn kiệt, tỉ lệ cá tạp, cá non, cá có giá trị kinh tế thấp trong các mẻ lưới khai thác được ngày càng nhiều. Phần lớn ngư dân làm các nghề khai thác vẫn đang tổ chức đánh bắt theo kiểu tận thu, không bị giới hạn về sản lượng, số lượng, phát triển nghề khai thác thiếu tính bền vững.

Một số chính sách và biện pháp quản lý nghề cá chưa thực sự gắn kết với thực tế hoạt động của nghề cá ở địa phương. Ngư dân vẫn có xu hướng khai thác tự do và phát triển các loại nghề, đội tàu theo hướng tự phát.

Theo Công điện số 1058/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách, trọng tâm chống khai thác IUU, gỡ cảnh báo “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu đã giao các địa phương: Ban hành cơ chế, chính sách chuyển đổi, hỗ trợ sinh kế cho ngư dân tự nguyện không tham gia hoạt động khai thác thủy sản hoặc tàu cá không còn đủ điều kiện theo quy định.

Thực hiện Công điện này, TP. Cần Thơ triển khai kế hoạch đến năm 2030 cần phải hỗ trợ giải bản để cắt giảm 131 tàu cá (26 tàu khai thác vùng lộng, 22 tàu khai thác vùng khơi, 83 tàu khai thác vùng ven bờ) gồm tàu cá không còn đủ điều kiện khai thác, tàu cũ, hoạt động không hiệu quả.

Từ thực trạng, HĐND TP. Cần Thơ ban hành Nghị quyết số 10/2026/NQ-HĐND ngày 29/4/2026 của HĐND TP. Cần Thơ quy định chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề, giải bản đối với tàu cá không có nhu cầu hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn TP. Cần Thơ đến năm 2030. Theo Nghị quyết này, Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hợp pháp của tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 6m trở lên được đăng ký tại TP. Cần Thơ và không có nhu cầu hoạt động khai thác thủy sản tự nguyện đăng ký giải bản tàu cá, chuyển đổi nghề không tiếp tục hoạt động khai thác. Các thuyền viên là thành viên của hộ gia đình chủ tàu cá có tàu giải bản trực tiếp tham gia hoạt động khai thác thủy sản, có nhu cầu học nghề, chuyển đổi việc làm.

Huỳnh Biển