Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021–2025, trước khi hợp nhất, hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn đã ban hành hệ thống chính sách khá đồng bộ. Tổng cộng 136 văn bản, gồm nghị quyết, quyết định và các văn bản quản lý, điều hành, đã tạo khung pháp lý cho triển khai giảm nghèo gắn với đổi mới phương thức tiếp cận. Trên cơ sở đó, toàn tỉnh triển khai 642 dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, thu hút hơn 13.300 hộ dân tham gia, chủ yếu là hộ nghèo, cận nghèo và hộ mới thoát nghèo.
Điểm khác biệt của các dự án là không chỉ dừng ở hỗ trợ vốn, giống, vật tư, mà từng bước lồng ghép ứng dụng khoa học – công nghệ và phương thức quản lý hiện đại. Người dân được hướng dẫn áp dụng kỹ thuật số trong trồng trọt, chăn nuôi, quản lý chi phí và kết nối thị trường. Nhờ đó, hiệu quả sản xuất được cải thiện rõ rệt, năng suất tăng, chi phí giảm và đầu ra ổn định hơn, tạo nền tảng để thoát nghèo thực chất, hạn chế nguy cơ tái nghèo.

Nhận diện rõ “khoảng cách số” là rào cản lớn đối với giảm nghèo bền vững ở vùng sâu, vùng xa, Thái Nguyên đã ưu tiên đầu tư hạ tầng viễn thông, Internet đến các địa bàn khó khăn. Nhiều xã vùng cao đã được phủ sóng 4G, nâng cấp băng thông, giúp người dân tiếp cận dịch vụ công trực tuyến và các nền tảng số. Song song với đó, tỉnh tập trung nâng cao kỹ năng số cho cộng đồng. Chương trình “Bình dân học AI” thu hút gần 400.000 người tham gia, cùng với mạng lưới tổ công nghệ số cộng đồng tại các xã, đã góp phần giúp người dân làm quen và sử dụng công nghệ trong đời sống, sản xuất.
Chuyển đổi số ở Thái Nguyên không chỉ diễn ra ở cấp hộ gia đình mà được triển khai đồng bộ trong hệ thống quản lý. Ban Chỉ đạo chuyển đổi số được thành lập từ tỉnh đến cơ sở, gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực hiện. Các chính sách an sinh xã hội được số hóa, từ quản lý dữ liệu hộ nghèo đến chi trả trợ cấp không dùng tiền mặt. Việc kết nối, khai thác cơ sở dữ liệu dân cư giúp chính quyền xác định đúng đối tượng, triển khai chính sách kịp thời, minh bạch và hiệu quả hơn.
Bên cạnh đó, tỉnh cũng thúc đẩy phát triển nông nghiệp số và du lịch thông minh. Nhiều sản phẩm nông nghiệp, làng nghề và điểm du lịch đã được gắn mã QR truy xuất nguồn gốc, kết nối với các sàn thương mại điện tử. Nhờ vậy, người dân không chỉ bán được sản phẩm với giá trị cao hơn mà còn từng bước tham gia chuỗi giá trị, nâng cao vị thế trên thị trường.
Thực tế tại các vùng chè Tân Cương, La Bằng hay khu ATK Định Hóa cho thấy, khi công nghệ được đưa vào sản xuất và tiêu thụ, người dân chủ động hơn trước biến động thị trường, thu nhập ổn định hơn. Hình ảnh “nông dân số” điều hành sản xuất bằng điện thoại thông minh đang ngày càng phổ biến, phản ánh sự thay đổi căn bản trong tư duy làm kinh tế.
Với cách làm kiên trì, lấy người dân làm trung tâm, Thái Nguyên đang từng bước biến chuyển đổi số thành động lực cốt lõi cho giảm nghèo bền vững, tạo nền tảng để phát triển bao trùm và không để ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình phát triển.
Nam Sơn (t/h)























